LM.
Giuse Phan Tấn Thành, O.P.
Tại sao, trong các bản kinh cổ truyền, người ta nói
tới 6 điều răn Hội Thánh, thế mà trong sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo mới
xuất bản, chỉ còn có 5 điều răn?
Trước khi trả lời câu hỏi, thiết tưởng nên nhắc cho
các thính giả biết thế nào là 6 điều răn Hội Thánh. Trước đây, trong các nhà
thờ tại Việt Nam, trước khi cử hành Thánh Lễ Chúa nhật, các tín hữu có thói
quen đọc kinh Mân Côi, kế đó ôn lại 10 điều răn Đức Chúa Trời, 6 điều răn Hội
Thánh, 7 mối tội đầu, 14 việc thương người, 8 mối phúc thật. Trong những năm
gần đây, thói tục ấy dần dần bị bỏ rơi và vì vậy mà nhiều người chẳng biết gì
đến 10 điều răn Đức Chúa Trời, huống chi là 6 điều răn của Hội Thánh. Sáu điều
răn của Hội Thánh là:
- Thứ nhất, dâng lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ
buộc;
- Thứ hai, chớ làm việc xác ngày Chúa nhật cùng những
ngày lễ buộc;
- Thứ ba, xưng tội trong một năm ít là một lần;
- Thứ bốn, chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa
Phục Sinh;
- Thứ năm, giữ chay những ngày Hội Thánh buộc;
- Thứ sáu, kiêng thịt ngày thứ Sáu cùng các ngày khác
Hội Thánh dạy.
Như vậy, người tín hữu chỉ buộc giữ có 6 điều răn Hội
Thánh thôi, chứ không phải gần 2 ngàn điều của Bộ Giáo luật sao?
Có thể ít hơn 6 điều nữa, như câu hỏi đã nêu lên ở lúc
đầu, xét vì Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo chỉ nói có 5
điều răn. Dù sao thì “điều răn” không phải là Giáo luật. Tiếng “điều răn” Hội
Thánh làm cho ta liên tưởng tới các “điều răn” của Đức Chúa Trời, ra như tiếp
nối các điều răn của Chúa, hay ít là áp dụng các điều răn Chúa vào một vài hoàn
cảnh cụ thể. Thế nhưng, trong các từ ngữ Âu châu, ngoài tiếng “commandement”
(điều răn), đôi khi người ta cũng dùng tiếng “précepte,” mà ta có thể dịch là
“mệnh lệnh.” Trong Giáo luật, tiếng “precepta” thường được hiểu về một “lệnh cụ
thể,” khác với “luật” (lex) thường có tính cách phổ quát hơn. Cách riêng,
trong Sách Giáo lý của Hồng y Gasparri xuất bản năm 1930 ở
Rôma, có sự phân biệt giữa 10 “mandata” (điều răn) của Thiên Chúa, và 5
“precepta” (mệnh lệnh) của Hội Thánh.
Xét về lịch sử thì các điều răn của Hội Thánh ra đời
vào khoảng cuối thế kỷ XV trong các sách giúp các cha giải tội và các hối nhân
xét mình xưng tội. Tỉ dụ như trong quyển sách Tổng luận thần học (Summa
theologica) của thánh Antôninô, Dòng Đaminh, Giám mục Firenze ở Italia năm
1486. Sang thế kỷ sau, nó đi vào các Sách Giáo lý của Thánh
Phêrô Canisius (1556) và Robertô Bellarminô (1598) Dòng Tên. Có điều lạ là tuy
Công đồng Trentô, trong sắc lệnh về việc kiêng thịt, giữ chay và lễ trọng ban
hành năm 1563, đã nhắc nhở phải tuân giữ các điều răn Hội Thánh; thế mà trong
quyển Giáo lý của công đồng Trentô ra đời năm 1566 (nghĩa là 3 năm sau đó) thì
không thấy nói đến danh sách các điều răn Hội Thánh. Phải chờ tới thế kỷ XVII
thì mới thấy nói tới chúng trong các sách giáo lý.
Nhưng mà có bao nhiêu điều răn Hội Thánh?
Con số này cũng co giãn. Các Sách giáo lý của
Canisius và Bellarminô kể ra tới 5; nhưng Sách giáo lý tục gọi
là của Đức Piô V thì chỉ có 4; còn các sách thần học luân lý, tựa như của thánh
Antôninô nói trên đây nhiều khi kéo dài tới số 10. Thường thì trong tất cả các
bản văn, ta đều thấy có các điều răn sau đây: dự Thánh Lễ và thánh hoá Chúa
nhật; xưng tội hằng năm; rước lễ trong mùa Phục sinh; ăn chay kiêng thịt. Ngoài
những điểm chung ấy ra, thì nơi này nơi khác có thêm một vài điều nữa, tỉ như,
đóng thuế thập phân cho Giáo hội dưới thời Vương chính nước Pháp, hoặc trợ giúp
hàng giáo sĩ, như bên các nước Bắc Mỹ; hoặc không được cưới hỏi trọng thể trong
mùa Chay; cấm kết hôn với người ngoại đạo; không lai vãng với những người đã bị
lên án tuyệt thông; không tham dự bí tích do các Linh mục có tư tình cử hành,…
Bản văn 6 điều răn mà chúng ta quen đọc ở các nhà thờ
Việt Nam nói được là giống với bản văn được áp dụng tại nước Pháp từ năm 1945.
Nên biết là tại Pháp danh sách các điều răn Hội Thánh ra đời từ thế kỷ XV, và
đã được đặt thành vè phổ thông. Trải qua 5 thế kỷ, chúng đã được nhiều lần thay
đổi, và lần cuối cùng vào năm 1931 và 1945. Đang khi ấy, tại Rôma, Sách
Giáo lý Công giáo của Hồng y Gasparri xuất bản năm 1930 chỉ kê khai có
5 điều răn: 1] Dâng lễ và kiêng việc xác vào Chúa nhật và lễ buộc; 2] Kiêng
thịt và ăn chay vào những ngày Hội Thánh định; 3] Xưng tội trọng ít là mỗi năm
một lần; 4] Rước lễ ít là mỗi năm một lần trong mùa Phục sinh; 5] Giúp đỡ các
nhu cầu của Giáo hội và các giáo sĩ.
Tại sao lại có sự co giãn về số các điều răn Hội Thánh
như vậy?
Thực ra, tuy được gọi là điều răn Hội Thánh, nhưng Toà
thánh không bao giờ tuyên bố một danh sách chính thức về các điều răn cả. Các
bản danh mục do các tác giả của những sách giáo lý, hay các nhà thần học soạn
ra, thường là nhằm để nhắc nhở các tín hữu về những nghĩa vụ liên can tới việc
phụng tự. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo mới ban hành đã
xếp chúng trong chương nói về vai trò của quyền giáo huấn của Giáo Hội đối với
đời sống đạo đức của người tín hữu, cách riêng với mục tiêu bảo đảm cho người
tín hữu được duy trì mức tối thiểu trong việc cầu nguyện, và cố gắng tăng trưởng
trong lòng mến Chúa yêu người (số 2041). Đó là mục tiêu, còn sự phát biểu và
tầm bó buộc thì có thể thay đổi tùy nơi tuỳ thời.
Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo nói tới 5 điều răn Hội Thánh. Đó là những điều
răn nào?
1] Dâng lễ Chúa nhật và các ngày lễ buộc;
2] Xưng tội một năm ít là một lần;
3] Rước lễ trong mùa Phục sinh;
4] Thánh hoá các Chúa nhật và ngày lễ trọng;
5] Ăn chay kiêng thịt vào những ngày luật định.
Chúng ta có thể nhận thấy tuy thứ tự và con số có hơi
khác với danh mục mà chúng ta quen đọc tại Việt Nam, nhưng nội dung thì như
nhau. Bộ Giáo luật đã bàn về những điểm đó trong quyển 4, nói
về nhiệm vụ thánh hoá của Giáo hội. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công
giáo cũng trích dẫn những khoản luật ấy, nhưng đồng thời cũng giải
thích ý nghĩa của chúng tại những chương khác nhau. Ta có thể bàn vắn tắt về ý
nghĩa của từng điều răn, dựa theo thứ tự đọc ở các nhà thờ tại Việt Nam như
sau.
Hai điều răn thứ nhất và thứ hai có thể gom lại làm
một, xét vì cả hai đều liên can đến nghĩa vụ phải giữ trong các Chúa nhật và lễ
buộc, tức là: tham dự Thánh Lễ và nghỉ việc xác. Xét theo lịch sử, thì việc
tham dự Thánh Lễ Chúa nhật nói được là đã có từ thời các thánh Tông đồ; các tín
hữu tụ họp nhau để cử hành Thánh Thể vào ngày tiếp theo ngày Sabbat của người
Do Thái, từ nay được gọi là Chúa nhật, ngày của Chúa, ngày thứ nhất trong tuần
dành để kính nhớ ngày Chúa sống lại. Tham dự Thánh Lễ xong thì người ta lại trở
về công việc thường nhật. Mãi tới thế kỷ IV, khi Kitô giáo được nhìn nhận là
Quốc giáo ở Rôma, thì mới có luật của nhà nước buộc ngưng việc lao động. Dần
dần, Giáo hội thêm một số ngày lễ trọng coi ngang với Chúa nhật. Trong quá khứ,
nhiều lần người ta rơi vào chế độ vụ luật, từ đó đặt ra không biết bao nhiêu là
câu hỏi chi li, tỉ như: phải tham dự Thánh Lễ từ phần nào tới phần nào khi chu
toàn nghĩa vụ? Chúa nhật, được phép làm việc gì, kiêng việc gì?... Ngày nay,
Giáo Hội muốn cho chúng ta khám phá ra tinh thần nguyên thuỷ của Chúa nhật,
ngày của Chúa, ngày tưởng niệm Chúa sống lại, ngày các tín hữu hội họp nhau để
cầu nguyện, chia sẻ; ngày nghỉ ngơi để nói lên điều kiện tự do thoải mái mai
sau trên Nước Trời... Nói tóm lại, thay vì nói đến việc giữ luật về Chúa nhật,
cần nhấn mạnh đến chỗ “thánh hoá ngày Chúa nhật,” nếu chúng ta không muốn rơi
vào vết xe cũ của người Pharisêu về luật Sabbat đã bị Chúa Giêsu lên án.
Điều răn thứ ba, xưng tội mỗi năm ít là một lần. Nghĩa
vụ này do công đồng Lateranô IV, vào năm 1215 đặt ra. Nghĩa vụ này đặt ra đối
với những người đã phạm tội trọng, xét vì tội nhẹ có thể được tha thứ qua các
việc bác ái khác. Dĩ nhiên đây là mức tối thiểu, chứ phàm ai đã ý thức mình
phạm tội trọng thì hãy đi xưng tội càng sớm càng hay, để luôn có thể sống trong
ơn sủng với Thiên Chúa. Cách riêng, trước khi đi rước lễ, thì phải xưng thú các
tội trọng.
Việc rước lễ một năm một lần vào mùa Phục sinh (điều
răn thứ bốn) cũng là một biện pháp kỷ luật do công đồng Lateranô IV năm 1215
đặt ra: đây là một điều tối thiểu, nhằm giúp cho đời sống thiêng liêng khỏi
chết yểu. Thực vậy, biện pháp kỷ luật được đặt ra vào lúc mà tinh thần đạo đức
đã sa sút; chứ còn vào thời buổi đầu, các tín hữu rước lễ thường xuyên vào lúc
họ đi tham dự Thánh Lễ, nghĩa là ít là hằng tuần.
Sau cùng, việc ăn chay kiêng thịt trải qua lịch sử đã
có những lúc chìm nổi, và không thiếu lần rơi vào tính cách vụ luật. Sau công
đồng Vaticanô II, Đức Phaolô VI đã duyệt lại kỷ luật trong vấn đề này với Tông
hiến Poenitemini (17/2/1966), nhằm nêu bật mục tiêu của việc
ăn chay kiêng thịt, đó là thống hối đền tội, chế ngự các đam mê, đồng thời với
sự chia sẻ số phận nghèo đói của hàng bao nhiêu triệu con người. Bởi vậy, vấn
đề không phải chỉ là kiêng thịt, nhưng nếu cần, có thể kiêng rượu, thuốc lá,
hay cái sở thú nào đó để bày tỏ tinh thần hãm mình đền tội; ngoài ra sự tiết
kiệm do việc kiêng khem có thể dùng vào việc bác ái.
Phụ lục:
Sách Giáo lý của Hội Thánh
Công giáo
2041. Các điều răn của Hội Thánh được đặt trong đường hướng một đời sống luân lý
gắn liền với đời sống phụng vụ và được đời sống phụng vụ nuôi dưỡng. Tính cách
bắt buộc của các luật thiết định này được công bố bởi các quyền bính mục vụ, có
mục đích cung cấp cho các tín hữu mức tối thiểu rất cần thiết về tinh thần cầu
nguyện và về nỗ lực luân lý, để gia tăng lòng mến Chúa yêu người.
2042. Điều răn thứ nhất (“Vào
các Chúa nhật và các ngày lễ buộc, các tín hữu phải tham dự Thánh Lễ và tránh
những công việc nô dịch”) đòi các tín hữu thánh hóa ngày tưởng niệm cuộc phục
sinh của Chúa, cũng như những lễ phụng vụ chính để tôn kính các mầu nhiệm của
Chúa, của Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc và của các Thánh, trước hết bằng việc
tham dự cuộc cử hành bí tích Thánh Thể, trong đó cộng đoàn Kitô hữu được quy
tụ, và tránh không làm những việc lao động và những việc tự bản chất có thể cản
trở việc thánh hóa những ngày đó.
Điều răn thứ hai (“Xưng
tội trong một năm ít là một lần”) bảo đảm việc chuẩn bị rước Thánh Thể bằng
việc lãnh nhận bí tích Hòa Giải, nối tiếp công việc hối cải và tha thứ của bí
tích Rửa Tội.
Điều răn thứ ba (“Rước
Mình Thánh Chúa ít là một lần trong mùa Phục Sinh”) bảo đảm mức tối thiểu trong
việc rước Mình và Máu Thánh Chúa, được liên kết với các lễ trong mùa Phục Sinh,
vì Phục Sinh là nguồn gốc và là trung tâm của phụng vụ Kitô Giáo.
2043. Điều răn thứ tư (“Kiêng
thịt và giữ chay trong những ngày thống hối do Hội Thánh quy định) bảo đảm thời
gian khổ chế và thống hối để chuẩn bị cho chúng ta mừng các lễ phụng vụ, và
giúp chúng ta làm chủ được các bản năng và đạt tới sự tự do của trái tim.
Điều răn thứ năm (“Đóng góp cho các nhu cầu của Hội Thánh”) dạy các tín hữu có bổn phận đóng góp cho các nhu cầu vật chất của Hội Thánh, mỗi người tùy theo khả năng của mình.


