Bài mới


Gioan B. Antôn Nguyễn Văn Tài

“Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả được dậy men”  (Mt 13,33).

Nấu rượu

Nhà tôi đã từng nấu rượu. Những ai đã được trải qua việc nấu rượu hay được chứng kiến quy trình nấu rượu hẳn sẽ không thể nào quên được một chất xúc tác đặc biệt quan trọng và không thể thiếu để có được những giọt rượu say nồng, thơm ngon. Đó chính là men. Men quan trọng lắm!

Trong nhà tôi, người thường xuyên đảm trách việc nấu rượu là chính mẹ tôi. Và đây là cách mẹ tôi “đối xử” với men rượu. Trước hết, mẹ tôi ra chợ mua những cục men trắng được bọc bởi những vỏ trấu lưa thưa. Những cục men trông nho nhỏ như những hạt sỏi nằm gọn trong lòng bàn tay. Về nhà, mẹ tôi sẽ tán nhuyễn những cục men bằng cách bỏ vào cối gỗ mà giã. Men sẽ nát tươm ra, nhuyễn nhỏ thành bột đến độ cả những vỏ trấu bám quanh cũng thành bột mịn màng. Với phương châm “càng mịn càng tốt”, mẹ tôi chẳng ngại bỏ thêm thời gian để giã những cục men thành bột men mịn. Sau khi đã có được thứ bột men mịn đạt chuẩn ISO “mẹ của tôi”, bà sẽ tiến hành rắc men vào cơm nguội đã được chuẩn bị sẵn. Số cơm mẹ tôi nấu rất nhiều, nhưng men thì mẹ tôi chỉ rắc vào nhiều lắm thì cũng chỉ vài ba nắm thôi. Mẹ bảo “chỉ cần chừng ấy là đủ, không cần nhiều, ít cũng được.” Khi men được rắc lên cơm rồi, mẹ tôi sẽ trộn men với cơm sao cho thật đều. Men bé nhỏ từng hạt li ti như những hạt bụi cứ thế len lỏi vào khắp nơi giữa “đám” cơm nguội, đến độ men biến mất đi đâu chẳng thấy. Nhìn vào đó, người ta sẽ chỉ còn thấy toàn cơm là cơm thôi. Men đã bị vùi lấp, đã bị áp đảo hoàn toàn và bị cơm chèn ép tư bề. Nhưng rồi, mẹ tôi lặng lẽ đem cả nồi cơm to đó đi ủ. Những lớp lá lớn dành riêng cho việc đó được lót đều xung quanh một cái thúng. Mẹ sẽ đổ cơm vào trong thúng đã lót lá và thêm một lớp lá cuối cùng được đắp lên trên. Tất cả bị chôn vùi và phủ lấp trong đó. Mẹ tôi chờ đợi trong hy vọng. Tôi cũng thế.

Một vài ngày sau đó, mẹ tôi bắt đầu mở chiếc thúng đó ra. Một mùi thơm kỳ lạ bốc lên theo những hơi nóng phả ra sau những lớp lá cũ kỹ. Tôi nhìn vào. Tuyệt vời! Tất cả vẫn là cơm, nhưng chẳng còn phải là thứ cơm không men nhạt nhẽo nữa. Đó là thứ cơm đã thấm nhuần men say. Men bỗng đâu xuất hiện khắp nơi trong cơm. Từ trong ra ngoài, cơm được biến đổi hoàn toàn bởi chất men. Tôi lấy ra một ít vào đưa vào miệng. Mùi vị rất ngon và khác lạ. Cơm mà lại có vị nồng nàn của rượu, ngọt ngào và tan nhanh trong miệng. Tôi được dặn không nên ăn nhiều, nếu không sẽ say “ngã lăn quay.” Nhờ mẹ, tôi biết được, nếu dùng thứ cơm đó mà bỏ vào cơm nguội theo đúng quy trình trên, thì men trong nó cũng có khả năng lan toả ra và làm cho tất cả dậy men. Cuối cùng, mẹ tôi đưa cả thúng cơm rượu đổ vào một chiếc nồi lớn mà nấu thành rượu bằng phương pháp chưng cất nhiệt.

Đó là hành trình của men mà tôi đã may mắn được chứng kiến.

Một vấn đề nan giải?

Bước ra khỏi chuyện nấu rượu của mẹ tôi, Chúa phán: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả được dậy men” (Mt 13,33). Đó quả thực là một mạc khải tuyệt vời và mầu nhiệm về Nước Trời.

Nhưng đâu là men sản sinh ra Nước  Trời? Thứ men kỳ lạ đó ở đâu? Đối diện với một thế giới ngập tràn sự dữ và sự chết, những con người yếu đuối đang dần dần tỏ ra bất lực và tuyệt vọng. Điều đó cho thấy một thực tại đau lòng, nhưng cũng tỏ bày một nhu cầu cấp thiết của thời đại hôm nay: Con người cần một thứ men hy vọng, có sức làm biến đổi bộ mặt địa cầu. Nhưng… men đó ở đâu?

Giêsu Kitô chính là men hy vọng cho chúng ta. Hành trình mà Ngài đã đi qua cũng chính là hành trình của một nắm men bà kia vùi vào ba thúng bột và cũng là hành trình của nắm men mà mẹ tôi dùng để nấu rượu mà tôi đã thấy. Hành trình đó là:

“Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,6–11).

Nắm Men Tin Mừng: Bị tán nhuyễn, bị vùi vào trong bột, biến đổi và toả lan

Biến cố Nhập Thể của Chúa Giêsu đã đánh dấu về mầu nhiệm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa, là Ngôi Lời phát xuất từ miệng Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật. Ngài là Đấng giàu sang, cao cả và đầy quyền năng. Nhưng vì yêu thương con người, là những kẻ vốn mang trong mình sự yếu đuối, nghèo nàn và nghiêng chiều hư đi vì tội lỗi, Ngài đã chấp nhận huỷ mình để xuống thế làm người và cư ngụ giữa con người. Ngài đã phải sinh ra trong máng cỏ, sống nhờ sự bao bọc của những người bị loại trừ, được sưởi ấm nhờ hơi thở bò lừa giữa cảnh đồng không mông quạnh. Như nắm men bé nhỏ đã bị tán nhuyễn trong tay thợ làm bánh và được gieo vào ba thúng bột, Con Thiên Chúa đã chấp nhận “tán nhuyễn” đời mình bằng tiếng thưa “Xin Vâng” với thánh ý của Cha mà đến với con người, ở giữa con người nhằm tỏ bày tình thương của Chúa Cha cho con người.

Kể từ đó, Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô liên tục đến với con người ở mọi tầng lớp trong xã hội. Ngài nhập thể không chỉ để đến với người giàu có, nhưng còn đến với những người nghèo khổ trong xã hội. Từ người già đến trẻ nhỏ, phú nông đến kẻ cơ bần, từ người trí thức đến những kẻ không được học, từ những người quyền thế đến những kẻ không có địa vị trong xã hội,… Ngài yêu thương tất cả, không loại trừ bất cứ ai. Thậm chí, Ngài còn đi xa hơn nữa khi chấp nhận huỷ mình để đồng hoá mình với mọi người anh em, nhất là những người nghèo (x. Mt 25,40). Nơi Chúa Giêsu, con người gặp thấy một thứ men mới đang len lỏi khắp nhân gian, một thứ men khác biệt với men Pharisêu và men biệt phái. Nơi Ngài, men yêu thương, tha thứ và hy vọng đã hòa vào nhân gian và chạm đến mọi tâm hồn.

Một vị Thiên Chúa uy quyền, mạnh mẽ và đứng trên tất cả mọi người sẽ dễ để được chấp nhận theo cái nhìn của con người. Vậy mà Chúa Giêsu, nắm men hy vọng Thiên Chúa gieo vào lòng nhân loại, lại đến và mang tới hình ảnh một vị Thiên Chúa yếu đuối đến cùng tận, một nắm men “bị tán nhuyễn” và dường như trở nên hoàn toàn bất lực trước đau khổ và cái chết. Điều đó thật khó chấp nhận. Ngài nói về chính mình rằng “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại’” (Mc 9,31). Ngài đã đi vào trong thế giới của những người khổ đau hơn hết. Trên Thập giá, Ngài đã thực sự để mình bị tán nhuyễn và chấp nhận vùi mình trong đám tội nhân, vùi mình vào trong thân phận của những kẻ bị nguyền rủa là đáng chết. Nhưng tất cả đều vì tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Ngài hiểu, những tội nhân bị loại trừ, những kẻ không đáng được dung tha và những kẻ phải chết thì không thể tiến đến trước ngai Thiên Chúa bằng sức lực của mình, bởi khoảng cách quá xa. Một bên là Thiên Chúa, Đấng hoàn hảo và công chính. Còn một bên lại đầy thương tích, bất trung, tội lỗi và bất xứng. Thế nên, Chúa Giêsu đã đích thân tiến lại gần chúng ta, cúi xuống với chúng ta trong thân phận đơn hèn của một tội nhân phải chết và đưa tay ra nâng chúng ta lên khỏi đáy hố sâu tội lỗi. Với cái chết trên Thập giá, niềm hy vọng đạt tới đỉnh cao khi Thiên Chúa đến ôm vào lòng mình những kẻ đang tuyệt vọng nhất trong thế giới.

Cuối cùng, Chúa đã phục sinh và hiện diện với chúng ta luôn mãi trong Bí tích Thánh Thể. Xưa kia, dân Israel với sự dẫn dắt của ông Môsê đã được Thiên Chúa thực hiện một cuộc vượt qua ra khỏi Ai Cập, tiến vào đất hứa. Kể từ ngày đó, họ vẫn cử hành lễ Bánh Không Men để tưởng nhớ kỳ công của Chúa. Nhưng nay, với cuộc Xuất Hành mới của Chúa Giêsu, một dân mới được dẫn dắt ra khỏi tình trạng nô lệ tội lỗi mà đi vào miền đất hứa của ân sủng. Bây giờ, Dân Mới là chính Giáo Hội đã được quy tụ, không phải để cử hành lễ Bánh Không Men như trong đạo cũ, nhưng là Bánh có men. Tấm bánh trắng trên bàn thờ là bánh không men, nhưng một cách mầu nhiệm, bánh đó đã có men. Men đó là men Chúa Giêsu Cứu Thế, Men hy vọng của chúng ta, ở cùng chúng ta luôn mãi. Chúa Giêsu là men hy vọng vĩnh cửu và duy nhất. Ngài không phô trương, không hò hét và giận dữ. Ngài là men thinh lặng, nhỏ bé, chấp nhận bị “tán nhuyễn”, “bị gieo vào” thúng bột thế gian. Nhưng trong men Giêsu đó, sức mạnh phi thường của tình thương và hy vọng đã len lỏi vào mọi tâm hồn, làm xáo trộn và biến đổi mọi sự với một sức lan tỏa mạnh mẽ và bất diệt.

Chúng ta là men trong Men Giêsu

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì được cứu độ” (Ga 3,16).  Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô vẫn đang tiếp tục mời gọi chúng ta nhìn nhận Con của Ngài là Cứu Chúa của chúng ta. Ngài hy vọng chúng ta đặt hết niềm hy vọng của mình vào nơi Ngài, tin tưởng vào Ngài và phó thác cho Ngài, để Ngài thực hiện công trình cứu độ trên cuộc đời chúng ta. Bởi chính Ngài là men cho đời, là ánh sáng cho chúng ta trong đêm tối của sự lo âu tuyệt vọng. Ngài không bao giờ buông tay chúng ta khi chúng ta kêu cầu Ngài. “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Có như thế, đời mỗi người chúng ta sẽ được biến đổi vì có Ngài, Men Hy Vọng của chúng ta, và không ai có thể cướp mất Ngài khỏi chúng ta.

Tuy nhiên, Thiên Chúa còn mời gọi chúng ta đi xa hơn nữa. Ngài không muốn chúng ta mãi sống tà tà trong sự khép mình để tự vui hưởng. Nhưng Ngài muốn chúng ta bước theo Ngài và cùng Ngài trở nên là men cho đời. Đón nhận và mang trong mình Chúa Giêsu là Men Mới, mỗi Kitô hữu và cách riêng, các tu sĩ DCCT sẽ góp phần tiếp nối sự hiện diện của Chúa Giêsu và sứ mạng của Ngài trên trần gian (x. Hp. 23). Hiến Pháp DCCT nói rằng: các tu sĩ “thực sự chia sẻ với mọi người niềm vui đã mang lại cho cuộc đời họ. Vì vậy, họ trở nên men cho đời và là chứng tá sống động của niềm hy vọng” (Hp. 43). Cùng Chúa Giêsu, chúng ta mạnh dạn ra đi đến với mọi số phận đau khổ trong cuộc đời để gieo rắc tình thương, thổi bùng lên ngọn lửa niềm tin cuộc sống và vững vàng toả lan niềm hy vọng. Nhờ đó, những ai sống trong âu sầu tuyệt vọng sẽ được dìu bước ra khỏi miền u tối để tiến vào miền đất hứa của niềm vui hân hoan. Họ và cả chúng ta sẽ được sống và sống dồi dào như Lời đã hứa (x. Ga 10,10).

Trên hành trình xa…

“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9,31). Đó là Lời Chúa Giêsu vẫn hằng nhắc nhớ cho chúng ta là những môn sinh của Ngài trên mọi nẻo đường. Đau khổ, chống đối và bách hại sẽ chẳng vắng bóng trên hành trình đó. Nhưng Ngài mời gọi chúng ta “Đừng sợ. Can đảm lên. Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33). Bởi đó, chúng ta hãy bước đi trên chính con đường Đức Kitô đã đi, theo sát gót Ngài và đặt chân mình vào dấu chân của Ngài. Vì chính Ngài đã mở con đường đó cho chúng ta vì yêu thương chúng ta. Trong Ngài, chúng ta sẽ chiến thắng và đạt tới quê hương Nước Trời. Đó là niềm hy vọng bất diệt của chúng ta.

Học viện thánh Anphongsô