Men hy vọng

“Nước Trời
cũng giống như chuyện nắm men bà kia vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả
được dậy men” (Mt 13,33).
Nấu
rượu
Nhà tôi đã từng
nấu rượu. Những ai đã được trải qua việc nấu rượu hay được chứng kiến quy trình
nấu rượu hẳn sẽ không thể nào quên được một chất xúc tác đặc biệt quan trọng và
không thể thiếu để có được những giọt rượu say nồng, thơm ngon. Đó chính là
men. Men quan trọng lắm!
Trong nhà
tôi, người thường xuyên đảm trách việc nấu rượu là chính mẹ tôi. Và đây là cách
mẹ tôi “đối xử” với men rượu. Trước hết, mẹ tôi ra chợ mua những cục men trắng
được bọc bởi những vỏ trấu lưa thưa. Những cục men trông nho nhỏ như những hạt
sỏi nằm gọn trong lòng bàn tay. Về nhà, mẹ tôi sẽ tán nhuyễn những cục men bằng
cách bỏ vào cối gỗ mà giã. Men sẽ nát tươm ra, nhuyễn nhỏ thành bột đến độ cả
những vỏ trấu bám quanh cũng thành bột mịn màng. Với phương châm “càng mịn càng
tốt”, mẹ tôi chẳng ngại bỏ thêm thời gian để giã những cục men thành bột men mịn.
Sau khi đã có được thứ bột men mịn đạt chuẩn ISO “mẹ của tôi”, bà sẽ tiến hành
rắc men vào cơm nguội đã được chuẩn bị sẵn. Số cơm mẹ tôi nấu rất nhiều, nhưng
men thì mẹ tôi chỉ rắc vào nhiều lắm thì cũng chỉ vài ba nắm thôi. Mẹ bảo “chỉ
cần chừng ấy là đủ, không cần nhiều, ít cũng được.” Khi men được rắc lên cơm rồi,
mẹ tôi sẽ trộn men với cơm sao cho thật đều. Men bé nhỏ từng hạt li ti như những
hạt bụi cứ thế len lỏi vào khắp nơi giữa “đám” cơm nguội, đến độ men biến mất
đi đâu chẳng thấy. Nhìn vào đó, người ta sẽ chỉ còn thấy toàn cơm là cơm thôi.
Men đã bị vùi lấp, đã bị áp đảo hoàn toàn và bị cơm chèn ép tư bề. Nhưng rồi, mẹ
tôi lặng lẽ đem cả nồi cơm to đó đi ủ. Những lớp lá lớn dành riêng cho việc đó
được lót đều xung quanh một cái thúng. Mẹ sẽ đổ cơm vào trong thúng đã lót lá
và thêm một lớp lá cuối cùng được đắp lên trên. Tất cả bị chôn vùi và phủ lấp
trong đó. Mẹ tôi chờ đợi trong hy vọng. Tôi cũng thế.
Một vài ngày
sau đó, mẹ tôi bắt đầu mở chiếc thúng đó ra. Một mùi thơm kỳ lạ bốc lên theo những
hơi nóng phả ra sau những lớp lá cũ kỹ. Tôi nhìn vào. Tuyệt vời! Tất cả vẫn là
cơm, nhưng chẳng còn phải là thứ cơm không men nhạt nhẽo nữa. Đó là thứ cơm đã
thấm nhuần men say. Men bỗng đâu xuất hiện khắp nơi trong cơm. Từ trong ra
ngoài, cơm được biến đổi hoàn toàn bởi chất men. Tôi lấy ra một ít vào đưa vào
miệng. Mùi vị rất ngon và khác lạ. Cơm mà lại có vị nồng nàn của rượu, ngọt
ngào và tan nhanh trong miệng. Tôi được dặn không nên ăn nhiều, nếu không sẽ
say “ngã lăn quay.” Nhờ mẹ, tôi biết được, nếu dùng thứ cơm đó mà bỏ vào cơm
nguội theo đúng quy trình trên, thì men trong nó cũng có khả năng lan toả ra và
làm cho tất cả dậy men. Cuối cùng, mẹ tôi đưa cả thúng cơm rượu đổ vào một chiếc
nồi lớn mà nấu thành rượu bằng phương pháp chưng cất nhiệt.
Đó là hành
trình của men mà tôi đã may mắn được chứng kiến.
Một
vấn đề nan giải?
Bước ra khỏi
chuyện nấu rượu của mẹ tôi, Chúa phán: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men
bà kia vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả được dậy men” (Mt 13,33). Đó
quả thực là một mạc khải tuyệt vời và mầu nhiệm về Nước Trời.
Nhưng đâu là
men sản sinh ra Nước Trời? Thứ men kỳ lạ
đó ở đâu? Đối diện với một thế giới ngập tràn sự dữ và sự chết, những con người
yếu đuối đang dần dần tỏ ra bất lực và tuyệt vọng. Điều đó cho thấy một thực tại
đau lòng, nhưng cũng tỏ bày một nhu cầu cấp thiết của thời đại hôm nay: Con người
cần một thứ men hy vọng, có sức làm biến đổi bộ mặt địa cầu. Nhưng… men đó ở
đâu?
Giêsu Kitô
chính là men hy vọng cho chúng ta. Hành trình mà Ngài đã đi qua cũng chính là
hành trình của một nắm men bà kia vùi vào ba thúng bột và cũng là hành trình của
nắm men mà mẹ tôi dùng để nấu rượu mà tôi đã thấy. Hành trình đó là:
“Đức Giêsu
Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang
hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời
cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên
Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm
phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng
tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,6–11).
Nắm
Men Tin Mừng: Bị tán nhuyễn, bị vùi vào trong bột, biến đổi và toả lan
Biến cố Nhập
Thể của Chúa Giêsu đã đánh dấu về mầu nhiệm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và
cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa, là Ngôi Lời
phát xuất từ miệng Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật. Ngài là Đấng giàu sang,
cao cả và đầy quyền năng. Nhưng vì yêu thương con người, là những kẻ vốn mang
trong mình sự yếu đuối, nghèo nàn và nghiêng chiều hư đi vì tội lỗi, Ngài đã chấp
nhận huỷ mình để xuống thế làm người và cư ngụ giữa con người. Ngài đã phải
sinh ra trong máng cỏ, sống nhờ sự bao bọc của những người bị loại trừ, được sưởi
ấm nhờ hơi thở bò lừa giữa cảnh đồng không mông quạnh. Như nắm men bé nhỏ đã bị
tán nhuyễn trong tay thợ làm bánh và được gieo vào ba thúng bột, Con Thiên Chúa
đã chấp nhận “tán nhuyễn” đời mình bằng tiếng thưa “Xin Vâng” với thánh ý của
Cha mà đến với con người, ở giữa con người nhằm tỏ bày tình thương của Chúa Cha
cho con người.
Kể từ đó,
Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô liên tục đến với con người ở mọi tầng lớp
trong xã hội. Ngài nhập thể không chỉ để đến với người giàu có, nhưng còn đến với
những người nghèo khổ trong xã hội. Từ người già đến trẻ nhỏ, phú nông đến kẻ
cơ bần, từ người trí thức đến những kẻ không được học, từ những người quyền thế
đến những kẻ không có địa vị trong xã hội,… Ngài yêu thương tất cả, không loại
trừ bất cứ ai. Thậm chí, Ngài còn đi xa hơn nữa khi chấp nhận huỷ mình để đồng
hoá mình với mọi người anh em, nhất là những người nghèo (x. Mt 25,40). Nơi
Chúa Giêsu, con người gặp thấy một thứ men mới đang len lỏi khắp nhân gian, một
thứ men khác biệt với men Pharisêu và men biệt phái. Nơi Ngài, men yêu thương,
tha thứ và hy vọng đã hòa vào nhân gian và chạm đến mọi tâm hồn.
Một vị Thiên
Chúa uy quyền, mạnh mẽ và đứng trên tất cả mọi người sẽ dễ để được chấp nhận
theo cái nhìn của con người. Vậy mà Chúa Giêsu, nắm men hy vọng Thiên Chúa gieo
vào lòng nhân loại, lại đến và mang tới hình ảnh một vị Thiên Chúa yếu đuối đến
cùng tận, một nắm men “bị tán nhuyễn” và dường như trở nên hoàn toàn bất lực
trước đau khổ và cái chết. Điều đó thật khó chấp nhận. Ngài nói về chính mình rằng
“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau
khi bị giết chết, Người sẽ sống lại’” (Mc 9,31). Ngài đã đi vào trong thế giới của
những người khổ đau hơn hết. Trên Thập giá, Ngài đã thực sự để mình bị tán nhuyễn
và chấp nhận vùi mình trong đám tội nhân, vùi mình vào trong thân phận của những
kẻ bị nguyền rủa là đáng chết. Nhưng tất cả đều vì tình yêu Thiên Chúa dành cho
nhân loại. Ngài hiểu, những tội nhân bị loại trừ, những kẻ không đáng được dung
tha và những kẻ phải chết thì không thể tiến đến trước ngai Thiên Chúa bằng sức
lực của mình, bởi khoảng cách quá xa. Một bên là Thiên Chúa, Đấng hoàn hảo và
công chính. Còn một bên lại đầy thương tích, bất trung, tội lỗi và bất xứng. Thế
nên, Chúa Giêsu đã đích thân tiến lại gần chúng ta, cúi xuống với chúng ta
trong thân phận đơn hèn của một tội nhân phải chết và đưa tay ra nâng chúng ta
lên khỏi đáy hố sâu tội lỗi. Với cái chết trên Thập giá, niềm hy vọng đạt tới đỉnh
cao khi Thiên Chúa đến ôm vào lòng mình những kẻ đang tuyệt vọng nhất trong thế
giới.
Cuối cùng,
Chúa đã phục sinh và hiện diện với chúng ta luôn mãi trong Bí tích Thánh Thể.
Xưa kia, dân Israel với sự dẫn dắt của ông Môsê đã được Thiên Chúa thực hiện một
cuộc vượt qua ra khỏi Ai Cập, tiến vào đất hứa. Kể từ ngày đó, họ vẫn cử hành lễ
Bánh Không Men để tưởng nhớ kỳ công của Chúa. Nhưng nay, với cuộc Xuất Hành mới
của Chúa Giêsu, một dân mới được dẫn dắt ra khỏi tình trạng nô lệ tội lỗi mà đi
vào miền đất hứa của ân sủng. Bây giờ, Dân Mới là chính Giáo Hội đã được quy tụ,
không phải để cử hành lễ Bánh Không Men như trong đạo cũ, nhưng là Bánh có men.
Tấm bánh trắng trên bàn thờ là bánh không men, nhưng một cách mầu nhiệm, bánh
đó đã có men. Men đó là men Chúa Giêsu Cứu Thế, Men hy vọng của chúng ta, ở
cùng chúng ta luôn mãi. Chúa Giêsu là men hy vọng vĩnh cửu và duy nhất. Ngài
không phô trương, không hò hét và giận dữ. Ngài là men thinh lặng, nhỏ bé, chấp
nhận bị “tán nhuyễn”, “bị gieo vào” thúng bột thế gian. Nhưng trong men Giêsu
đó, sức mạnh phi thường của tình thương và hy vọng đã len lỏi vào mọi tâm hồn,
làm xáo trộn và biến đổi mọi sự với một sức lan tỏa mạnh mẽ và bất diệt.
Chúng
ta là men trong Men Giêsu
“Thiên Chúa
yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì được cứu độ”
(Ga 3,16). Thiên Chúa trong Chúa Giêsu
Kitô vẫn đang tiếp tục mời gọi chúng ta nhìn nhận Con của Ngài là Cứu Chúa của
chúng ta. Ngài hy vọng chúng ta đặt hết niềm hy vọng của mình vào nơi Ngài, tin
tưởng vào Ngài và phó thác cho Ngài, để Ngài thực hiện công trình cứu độ trên
cuộc đời chúng ta. Bởi chính Ngài là men cho đời, là ánh sáng cho chúng ta
trong đêm tối của sự lo âu tuyệt vọng. Ngài không bao giờ buông tay chúng ta
khi chúng ta kêu cầu Ngài. “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng,
vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người
ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Có như thế, đời mỗi người chúng ta sẽ được biến đổi
vì có Ngài, Men Hy Vọng của chúng ta, và không ai có thể cướp mất Ngài khỏi
chúng ta.
Tuy nhiên,
Thiên Chúa còn mời gọi chúng ta đi xa hơn nữa. Ngài không muốn chúng ta mãi sống
tà tà trong sự khép mình để tự vui hưởng. Nhưng Ngài muốn chúng ta bước theo
Ngài và cùng Ngài trở nên là men cho đời. Đón nhận và mang trong mình Chúa
Giêsu là Men Mới, mỗi Kitô hữu và cách riêng, các tu sĩ DCCT sẽ góp phần tiếp nối
sự hiện diện của Chúa Giêsu và sứ mạng của Ngài trên trần gian (x. Hp. 23). Hiến
Pháp DCCT nói rằng: các tu sĩ “thực sự chia sẻ với mọi người niềm vui đã mang lại
cho cuộc đời họ. Vì vậy, họ trở nên men cho đời và là chứng tá sống động của niềm
hy vọng” (Hp. 43). Cùng Chúa Giêsu, chúng ta mạnh dạn ra đi đến với mọi số phận
đau khổ trong cuộc đời để gieo rắc tình thương, thổi bùng lên ngọn lửa niềm tin
cuộc sống và vững vàng toả lan niềm hy vọng. Nhờ đó, những ai sống trong âu sầu
tuyệt vọng sẽ được dìu bước ra khỏi miền u tối để tiến vào miền đất hứa của niềm
vui hân hoan. Họ và cả chúng ta sẽ được sống và sống dồi dào như Lời đã hứa (x.
Ga 10,10).
Trên
hành trình xa…
“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9,31). Đó là Lời Chúa Giêsu vẫn hằng nhắc nhớ cho chúng ta là những môn sinh của Ngài trên mọi nẻo đường. Đau khổ, chống đối và bách hại sẽ chẳng vắng bóng trên hành trình đó. Nhưng Ngài mời gọi chúng ta “Đừng sợ. Can đảm lên. Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33). Bởi đó, chúng ta hãy bước đi trên chính con đường Đức Kitô đã đi, theo sát gót Ngài và đặt chân mình vào dấu chân của Ngài. Vì chính Ngài đã mở con đường đó cho chúng ta vì yêu thương chúng ta. Trong Ngài, chúng ta sẽ chiến thắng và đạt tới quê hương Nước Trời. Đó là niềm hy vọng bất diệt của chúng ta.


