Bài mới


Giuse Lê Nguyễn

“Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” (Rm 5,8)

Bước đi trong cuộc đời này, được “nhấn chìm”, được “nung nấu” trong lề thói của thế gian. Có lẽ, đời bạn và đời tôi đều bị “chảy” trong những khuôn mẫu mà thế gian quy hướng, để rồi trong những phút buông lơi đời mình trong khoảng không vô định, trong những lần nổi trôi trên biển đời, ta nhận ra cuộc đời mình chẳng có gì ngoài sự hổ lốn, lộn xộn như đống ve chai đổ bể bị người ta vứt bỏ nơi góc sân vườn.

Trong hơn hai mươi năm cuộc đời dìm mình trong thế gian, tôi cứ mải luẩn quẩn giữa biển đời với những thứ chóng qua chỉ để kiếm tìm một thứ mang tên hạnh phúc, nhưng hạnh phúc của thế gian chỉ như giấc mộng vàng, dễ dàng trôi tuột, tan biến tựa áng mây và thứ còn lại trong tôi là một mớ đổ bể, lộn xộn, hổ lốn. Thế nhưng, chính trong cái sự lộn xộn, đổ bể ấy, có một Đấng đã tự nguyện đi vào cuộc đời tôi, đụng chạm đến tôi, ôm lấy tôi và ở cùng tôi mọi ngày cho đến tận thế.

Để nhận ra điều này, để gặp gỡ một Đấng đang ở cùng tôi và để kinh nghiệm đích thân sự đụng chạm của Đấng ấy nơi cuộc đời tôi thì không phải một ngày hay hai ngày, một tháng hay hai tháng là tôi có thể “vỡ ra” được, nhưng đó là cả một hành trình thanh luyện, cởi bỏ con người cũ của tôi, hầu tôi mặc lấy con người mới được tạo dựng theo hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại từ cõi chết (x. HP 41).

Nhìn lại thời gian quý giá trong Tập viện, tôi khám phá ra chính nơi đây tôi được Thiên Chúa tách riêng ra khỏi sự huyên náo, xô bồ của thế gian để ở với Chúa trong sự cô tịch và để gắn kết mật thiết, đối thoại thân tình với Người trong đời sống cầu nguyện. Cũng chính nơi đây, tôi kinh nghiệm được sự trống rỗng, hư vô trong tôi giờ đây đã được đổ đầy hương thơm dịu ngọt của Chúa. Được ở với Chúa và trong tương quan nghĩa thiết với Chúa, được Thần Khí Chúa soi sáng, dẫn đường, nơi Tập viện này tôi đã gặp gỡ được nguồn hạnh phúc đích thực và vĩnh hằng của đời tôi ấy là chính Chúa, là chính Đức Kitô Nhập Thể, Chết, Sống lại và Người đang hiện hữu với tôi và trong tôi.

Trong năm Tập viện, tôi có cơ hội được nhìn lại cuộc đời mình, được khám phá lại những hành trình mà tôi đã đi qua và được “đào lại” những điều cũ kĩ của quá khứ mà tôi đã chôn sâu trong nấm mồ lòng mình. Gọi là cơ hội, vì ngang qua từng biến cố, từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời, tôi thấy được tình yêu khôn dò khôn thấu mà Chúa đã dành cho tôi trong kế hoạch từ ngàn đời của Người. Tuy nhiên, để trở về khám phá lại con người thật của mình trong quá khứ, để “lôi lên” những vết thương mà tôi đã chôn kín trong lòng, quả thật chưa bao giờ là điều dễ dàng, nhẹ nhàng với tôi và có lẽ với mỗi người chúng ta. Bởi vì, con người là thụ tạo xác đất vật hèn, yếu đuối và bất toàn nên khi đối diện với những thực tại không như ta mong ước hay khi đối diện với những tổn thương, mất mát quá lớn, ta thường chọn cách trốn chạy và chôn đi những điều làm ta tổn thương, để rồi ta tự an ủi, đánh lừa mình bằng sự bình an không có thật.

Trong suốt năm Tập viện, được dìm mình trong đời sống cầu nguyện, được soi mình dưới ánh sáng Lời Chúa, mỗi ngày được “diện đối diện”, “mặt giáp mặt” với Chúa, tôi nhận ra những thứ mà trước kia tôi chạy trốn, lẩn tránh thì giờ đây đang vây bủa lấy tôi, những thứ mà trước kia tôi xây đắp lên mình để che giấu sự yếu đuối mục nát trong tôi thì giờ đây bị rớt xuống và những thứ mà trước kia tôi chôn sâu trong nấm mồ lòng mình giờ đây bị trồi lên. Quả thật, “không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ”(Dt 4,13). Khi đối diện với một Thiên Chúa bé nhỏ, đơn sơ, rạng rỡ nơi máng cỏ; khi đối diện với một Thiên Chúa thân mình bầm dập đầy những vết tích trên thập giá và khi đối diện với một Thiên Chúa nghiền nát mình, bẻ mình ra cho tôi nơi bàn thờ, tôi thấy mọi thứ trong ngoài tôi trở nên vỡ vụn và tôi thấy mình trần trụi, nghèo hèn, yếu đuối và bất toàn trước một Thiên Chúa nhân hậu và giàu lòng xót thương.

Một năm được ở lại trong tình thương của Chúa, cùng với sự soi sáng của Lời và ngang qua việc đồng hành thiêng liêng với cha Tập sư, tôi đã trải qua hết cung bậc cảm xúc này đến cung bậc cảm xúc khác. Có những lúc bước đi trong đêm tối, tôi trở nên nghi ngờ chính tôi, chính Chúa và con đường tôi đang đi. Có những đêm tôi thầm trách Chúa, đổ lỗi cho Chúa về cuộc đời của tôi “Tại sao tôi đã không chết ngay trong lòng mẹ để mẹ tôi nên nấm mồ chôn tôi, và lòng bà cưu mang tôi mãi mãi? Tôi đã lọt lòng mẹ để làm chi? Phải chăng chỉ để thấy toàn gian khổ, buồn sầu, và thấy cuộc đời qua đi trong tủi hổ?” (Gr 20,17-18). Thế nhưng đêm tối nào rồi cũng lụi tàn để nhường chỗ cho hừng đông xuất hiện. Dù lâu hay mau, sớm hay muộn thì hừng đông chắc chắn sẽ xuất hiện và ánh quang ngày mới sẽ chiếu soi xua tan đi bóng đêm u tối lạnh lẽo. Điều cần thiết là phải can đảm đối diện với đêm tối trong sự tin tưởng, phó thác, cậy trông hoàn toàn vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Kinh nghiệm được điều này, tôi dần mở lòng ra với Chúa, đập bỏ nỗi nghi nan về Chúa, về con người của tôi và về con đường mà Chúa mời gọi tôi bước theo.

Sống trong tâm tình biết ơn, phó thác, cậy trông, tin tưởng hoàn toàn vào Chúa, tôi nhận ra một Đức Kitô hằng sống luôn ở trong tôi, ở với tôi và Người không bao giờ bỏ rơi tôi. Dù tôi có xa lạc đến đâu thì Người vẫn luôn ở đó, kêu gọi tôi, chờ mong tôi trở về với Người để Người ôm lấy, vác tôi trên vai của Người vì danh Người là Tình Yêu. Một tình yêu nhưng không; một tình yêu sẵn sàng chết cho người mình yêu; một tình yêu, yêu cho đến cùng tận.

Kinh nghiệm được tình yêu vô bờ bến mà Thiên Chúa dành cho tôi trong suốt những năm qua, giờ đây, tôi muốn dùng cuộc đời của tôi để bước theo chân Chúa Cứu Thế trong Dòng Chúa Cứu Thế hầu loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó. Dù biết nẻo đường đi vào cuộc phiêu lưu trong tình yêu với Thiên Chúa sẽ lắm chông gai, thử thách, đau khổ nhưng tôi luôn tin rằng ơn của Chúa đủ cho tôi, vì sức mạnh của Chúa được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của tôi (x. 2Cr 12,9). Hơn nữa, đời sống cộng đoàn huynh đệ cũng giúp tôi vững vàng tiến bước. Qua một năm Tập viện, bằng những giờ chia sẻ chân thành, cầu nguyện, học tập và làm việc chung, qua chính việc kết hợp mật thiết với Chúa Kitô tôi cũng cảm nhận được sự hiệp thông chặt chẽ hơn với anh em mình. Từ đó, tôi nhận ra mỗi người là một chi thể trong thân mình thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế được quy tụ lại theo nhiều cách khác nhau để thi hành sứ mạng của Chúa Kitô Cứu Thế. Sau tất cả, tôi tin rằng dù tôi ở trong hoàn cảnh nào, tình trạng nào thì Chúa vẫn ở với tôi, trong tôi, trong anh em tôi và trong chính những người mà tôi phục vụ vì Người là Đấng Emmanuel.


G.B. Nguyễn Văn Dương

Đức hồng y Catalamensa từng ví von rằng: Khi nhìn lên các ô cửa kính trên đền thờ từ ngoài vào, chúng ta chỉ thấy những mảnh thủy tinh được gắn kết cách nguệch ngoặc với nhau. Nhưng cũng với ô kính đó, nhìn từ trong ra dưới ánh sáng mặt trời, nó hoàn toàn khác. Đó là một bức tranh tuyệt mỹ được liên kết với nhau một cách tinh tế và hết sức kỳ công. Nếu Đức hồng y muốn ví ngôi đền thờ đó với Giáo Hội, thì tôi cũng không ngại mượn hình ảnh này để so sánh với cuộc sống con người. Quả thật, bức tranh cuộc đời cũng được nhìn nhận và đánh giá bằng nhiều cách, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, từng thời điểm và từng lăng kính của mỗi người.

Hình ảnh tông đồ Phaolô là một minh chứng cho điều đó. Ông đã có kinh nghiệm gặp gỡ Đức Kitô phục sinh. Trước đây, Phaolô tự hào về bản thân, luôn đặt và giữ luật làm tâm điểm, là lẽ sống của cuộc đời. Ông thực hành luật như một Pharisêu cuồng tín, ôm lấy sự khắt khe trong chữ viết của luật để tuân giữ từng điểm nhỏ mà chẳng tìm kiếm tinh thần của nó. Vì vậy, ông luôn nhìn mọi sự kiện diễn ra bằng lăng kính của từng khoản luật được quy định. Phaolô xem mình là chuẩn mực nhờ làm như vậy. Ví thế ông cũng muốn mọi người phải trở nên như mình. Phaolô sẵn sàng mạo hiểm cả tính mạng để bắt bớ ngược đãi những Kitô hữu, là những người không chung lý tưởng với ông. Để rồi, trên đường Đamát, khi truy lùng, bắt bớ những môn đệ Chúa Kitô, một biến cố xảy ra. Thiên Chúa đã chiếu sáng, khiến mắt ông không còn thấy gì, sau đó Chúa dùng ông Khanania để làm cho mắt Phaolô lại được thấy (x. Cv 9,10-18). Qua đó ông nhận biết và gặp gỡ Chúa Kitô. Từ đó, ông thay đổi tiêu chuẩn và đặt lăng kính mới cho bản thân. Trước đây ông nhìn mọi người bằng con mắt của sự tức giận, hầm hực bởi lăng kính của lề luật. Thì giờ đây, nhờ ơn Chúa, Phaolô thay đổi hoàn toàn, nhờ việc trả lại vị trí trung tâm vốn dĩ là của Chúa và nhìn mọi sự bằng lăng kính quy Kitô, tình yêu, hy sinh và phục vụ. Dầu cho trước đây ông là người hung hăng để bắt đạo, thì lúc này Phaolô lại nhiệt thành loan báo Tin Mừng. Trước đây, ông xem việc giữ luật và có quốc tịch Rôma là niềm vinh dự, thì giờ đây, Phaolô coi tất cả những thứ đó chỉ là rơm rác trước mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô. Vì Đức Kitô, ông sẵn sàng từ bỏ tất cả. Phaolô không còn xem việc công chính hóa là nhờ vào bản thân hay do luật Môisê đem lại. Nhưng là do lòng tin vào Đức Kitô, nghĩa là do ân ban của Thiên Chúa (x. Pl 3,5-9). Vốn dĩ, Phaolô thay đổi hoàn toàn như vậy, là do ông đã gặp được một biến cố, gặp một con người là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết cho ông ngay khi ông còn đang là tội nhân (x. Rm 5,8), Phaolô kinh nghiệm được tình yêu đó, nên ông hoán cải, thay đổi cuộc đời.

Tình yêu thì không thế giữ cho riêng mình, nhưng luôn đòi hỏi sự chia sẻ, trao ban. Phaolô được tình yêu thúc bách (x. 2Cr 5,14) và ông muốn cho mọi người nhận biết tình yêu Chúa, nên ông không thể không rao giảng, “khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Phaolô ra đi với một niềm vui khôn tả (x. Pl 4,4), cùng một lòng biết ơn khôn xiết, ông nhận ra tất cả những gì ông có đều là ân ban của Chúa (x. 1Cr 15,10). Thế nên, ông không còn cậy dựa vào chính mình nữa nhưng hoàn toàn tin tưởng nơi Chúa ( x. Pl 4,13).

Có thể nói, nhờ gặp gỡ Đức Kitô, Phaolô đã “biến đổi cuộc đời mình” và “chân thành mình gặp mình”. Cũng vậy, mỗi tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) cần phải hết sức lưu tâm việc mặc lấy con người mới, để mang lấy tâm tình của Đức Kitô (x. Pl 2,5tt), và sẵn sàng đi trên con đường Người đã đi (x. HP 50). Hầu tiếp nối sự hiện diện của Đức Kitô và sứ mạng cứu chuộc của Ngài trên trần gian (x. HP 23), như là những chứng nhân Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa (x. HP 7) với trái tim tràn ngập niềm vui (x. HP 20). Nhưng để được vậy, mỗi tu sĩ cần phải có kinh nghiệm thiết thân với tình yêu của Đức Kitô, gặp gỡ Người một cách cá vị, đặc biệt trong đời sống cầu nguyện. Thiết nghĩ, nhà Tập là khoảng thời gian hồng ân để thực hiện điều đó.

Bước vào Tập Viện, là đi vào thời gian linh thánh, bước vào sa mạc cuộc đời mình, để tìm gặp Đấng đã yêu thương và chọn gọi chúng ta trước. Quả thật, trước đây hình ảnh Thiên Chúa đối với tôi là Đấng uy quyền, rất mực công chính, thưởng phạt rõ ràng, một Thiên Chúa của Cựu Ước, luôn dùng sức mạnh để lướt thắng kẻ chống đối, không vâng phục. Hình ảnh Thiên Chúa nơi tôi trở nên méo mó. Vì thế, khi đến với Ngài, tôi mang nơi mình sự sợ hãi hơn là vì yêu. Vì sợ nên tôi lẩn trốn, luồn lách. Tôi đến trong não trạng của một con buôn, xem việc đó chẳng khác gì mua hàng ở các máy tự động, bỏ ít tiền để nhận lại một thứ gì đó. Cũng thế, tôi mang tâm tình đó vào đời sống cầu nguyện: dành thời gian cho Chúa ắt phải được điều gì đó có lợi cho bản thân. Nếu những lời nguyện xin không được như ý mình, tôi tỏ thái độ buồn bực, khó chịu và chán nản, thất vọng với Chúa. Dĩ nhiên, từ đó tôi cũng cảm thấy khó chịu với người khác, cách riêng là những lời nhắc nhở đến từ anh em. Tôi cũng không kiên nhẫn với tha nhân, sẵn sàng khiển trách những sai phạm của họ cách không thương tiếc, dẫn đến các mối tương quan bị gãy đổ. Vì lúc đó lăng kính của tôi là sự hẹp hòi và ích kỷ của mình.

Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian kiên trì trong đời sống cầu nguyện bằng cách suy gẫm Lời Chúa, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, cùng với sự hướng dẫn và đồng hành của cha Giáo Tập, hình ảnh Thiên Chúa nơi tôi bắt đầu tỏ tường và rõ nét hơn. Vị Thiên Chúa đó không còn là Đấng ngự giá mây trời mà đến, không còn là Đấng không biết cảm thương những nỗi khốn khổ của con người. Nhưng là vị Thiên Chúa vì yêu mà đến làm người chấp nhận liên lụy, can dự vào lịch sử nhân loại và nơi chính cuộc đời tôi. Người sẵn sàng chịu những nỗi đau khổ vì tôi. Người đã không ngại nhảy xuống hố sâu bùn lầy hôi thối của tội lỗi để nâng tôi lên, cắt đứt sợi dây trói buộc bởi tội để tôi được tự do. Vì yêu, Người đã chấp nhận ôm lấy tội của tôi, đem lên cây thập giá, Người chết đi để tôi được sống. Đây là đỉnh cao của tình yêu.

Còn tôi, trước giờ vẫn luôn tự xem mình là trung tâm, nên đầy sự kiêu ngạo và hống hách, không ngần ngại xem Chúa là đầy tớ để điều khiển Người làm theo ý mình. Tuy nhiên, Chúa vẫn chấp nhận và tiếp tục kiên nhẫn với tôi. Khi nhận ra điều này, tôi đã không kìm nén được cảm xúc, mà chảy những giọt nước mắt của hối hận, nhận ra sự kiêu ngạo và con người đầy tội lỗi nơi mình. Đồng thời, những giọt nước mắt của hạnh phúc cũng tuôn trào khi tôi nhận ra tình yêu quá lớn lao của Chúa đã dành. Từ khoảnh khắc đó, vị trí trung tâm cuộc đời tôi là Chúa và lăng kính Tin Mừng tình yêu. Từ lúc đó, tôi thấy tâm hồn mình bình thản, tự do và biết ơn với những gì đã xảy ra trong quá khứ và đang diễn ra ở hiện tại. Tôi nhận ra tình yêu của Chúa và tình yêu của tha nhân ngang qua những lời góp ý. Đó là những điều mà trước đây tôi không cảm nhận được và cũng chẳng hay biết. Tôi dễ dàng đón nhận những sai lầm từ người khác với tâm tình cảm thông và góp ý trong bác ái huynh đệ. Bởi tôi biết, trước đây tôi cũng đã sai lầm nhưng Chúa chẳng trách phạt, ngược lại Ngài còn yêu thương tôi hơn khi tôi trở về.

Giờ đây, tôi mang lấy tâm tình của ông Gióp: “Trước kia con chỉ được biết về Chúa nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây chính mắt con chứng kiến” (G 42,5). Quả thật, tất cả là hồng ân nhưng không của Chúa. Chúng ta đừng ngại mở lòng mình ra để đón Chúa vào nhà mình, Ngài không phá đổ gì đâu. Nhưng Ngài sẽ giúp chúng ta sắp xếp lại cuộc đời, để ta trở nên vui tươi và tự do trong ân sủng. Chính tôi đã kinh nghiệm được điều này, hãy để Chúa làm trung tâm cuộc đời và nhìn mọi chuyện diễn ra trong cuộc sống bằng lăng kính quy Kitô. Từ đó, bóng tối của cô đơn, buồn bực, chán nản sẽ tan biến giống như lớp sương mù tan biến dưới ánh nắng mặt trời.

Tôi sẽ nhớ thương Tập Viện này mãi mãi,

Vì nơi đây Tôi đã cảm nghiệm được tình yêu.

Dẫu cho cuộc đời đầy yếu đuối lỗi lầm,

Nhưng sánh làm sao bằng tình yêu Chúa cao vời.

Học viện thánh Anphongsô