
Giuse Vũ Quốc Hưng
Ơn gọi của Dòng
Chúa Cứu Thế (DCCT) là trở thành các môn đệ Thừa sai, theo bước chân Chúa Cứu
Thế. Chính ơn gọi thừa sai này cấu thành và định hướng toàn bộ đời sống Tông đồ
Thánh hiến của mỗi tu sĩ trong Dòng.[1] Và
họ thực sự đã trở thành những thừa sai ngay từ lần đầu tuyên các lời khấn (x.
HP 55). Trong tư cách là một tập sinh chuyển bị tuyên các lời khấn, người viết
xin được nêu ra bốn đặc nét của một vị thừa sai đích thực DCCT, như để tóm kết
và chia sẻ những gì kín múc được trong Hiến Pháp của Dòng.
Nét đầu tiên phải
kể đến đó là vị thừa sai phải luôn trung thành rao giảng Lời của Chúa, theo
đúng nghĩa, hoàn toàn không nói lời của mình. Điều này định hướng cho người thừa
sai, trong giao tế cũng như giảng dạy, luôn nhắm đến việc rao giảng Lời Chúa. Họ
ý thức rõ, Lời Chúa chính là nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền, trường cửu
đem lại sự nâng đỡ và nuôi dưỡng cho dân Chúa (x. HP 28). Do vậy, họ không ngừng
đắm mình trong Lời Chúa, để cho Lời Chúa chất vấn cũng như thanh luyện tâm hồn
họ. Hầu lời rao giảng của họ có sức khả tín hơn, vì không chỉ rao giảng bằng lời
nhưng bằng cả đời sống của họ. Bên cạnh đó để làm nổi bật Lời Chúa, họ tránh hết
sức cách diễn tả hoa mĩ, phô trương và luôn thực hành lối nói giản dị theo đúng
tinh thần của Phúc Âm (x. HP 20).
Kế đến, các thừa
sai cần luôn nhớ họ được sai đi như những người trợ giúp, người đồng hành và những
thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô (x. HP 2), nên cần dấn thân làm việc của Chúa
chứ không làm việc riêng của mình. Vì thế, họ luôn thực hiện sứ mạng của mình
trong Hội Thánh, hoàn toàn tuân theo huấn quyền của Hội Thánh (x. HP 3). Họ
luôn tự buộc mình trở nên những tôi tớ khiêm hạ và can trường của chính Đức
Kitô (x. HP 6). Sự dấn thân của mỗi vị thừa sai hoàn toàn để phục vụ cho Tin Mừng.
Vì vậy họ luôn cố hết sức không để những sở thích, đam mê cá nhân chi phối
trong việc chọn lựa đối tượng và phương thế rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên sự dấn
thân của mỗi thừa sai cũng không bao giờ là bị động mà trái lại hoàn toàn chủ động,
sẵn sàng. Tính năng động thừa sai luôn thúc đẩy họ lên đường khai phá những đường
lối mới trong việc mang Tin Mừng đến tận cùng thế giới (x. HP 15).
Tiếp theo, các
thừa sai phải là những người luôn luôn tìm kiếm và thực thi Thánh ý Thiên Chúa,
chứ không loay hoay với những ý riêng của mình. Điều này được xác định rõ ràng
ngay từ mục đích ban đầu của Dòng. Khi nhìn nhận chính Chúa Thánh Thần là Đấng
thúc đẩy sứ mạng của Chúa Giêsu, mà Dòng được sai đi tiếp nối: “Người sai tôi
đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18). Quả thật, ngày từ khởi điểm
của việc sống ơn gọi thừa sai DCCT, chính Chúa Thánh Thần đã thúc đẩy và trợ lực
họ trong việc tuyên các lời khấn, để đạt đến sự hiến thân trọn vẹn cho Thiên
Chúa, trong sứ mạng của Đức Kitô (x. HP 56). Vì thế, họ phải không ngừng cầu khẩn
và dễ dàng thuần phục Chúa Thánh Thần, với xác tín chính Ngài là chủ mọi hoàn cảnh
và là ánh sáng soi dẫn người rao giảng cũng như người đón nhận. Việc tìm kiếm
Thánh ý Thiên Chúa cũng cần vị thừa sai phải hoàn toàn trao hiến ý riêng mình
cho Thiên Chúa; đồng thời buộc ý chí mình tùng phục vị bề trên hợp pháp trong
các điều hữu lý (x. HP 71).
Cuối cùng, vị thừa
sai phải luôn chú tâm làm mọi việc cốt vì vinh quang Thiên Chúa (x. HP 53), chứ
không nhắm để tôn vinh bản thân. Bởi lẽ, họ kinh nghiệm rất rõ về tình yêu và
lòng thương xót của Thiên Chúa, được tỏ bày trọn vẹn trong Đức Kitô (x. 1Ga 4,
10). Vì thế, việc họ dấn thân cho Đức Kitô cốt là để hướng đến việc đáp trả
tình yêu này (x. HP 56). Họ cố gắng hết sức để trở nên dấu chỉ và chứng tá cho
tình yêu của Thiên Chúa trước mặt người đời dưới mọi hình thức, hoàn cảnh. Dẫu
họ có đang ở tuổi già, bệnh tật hoặc không có khả năng làm những việc bên
ngoài, thậm chí là đau khổ và cái chết, thì họ cũng phải dùng chính điều đó để
làm chứng cho tình yêu cứu độ của Thiên Chúa (x. HP 55).
Tuy nhiên, để giữ
được ngọn lửa của một vị thừa sai DCCT đích thực, họ phải nhớ luôn vun trồng
tinh thần chiêm niệm (x. HP 24). Có như vậy, họ mới có thể gắn bó mật thiết với
Đức Kitô và sẵn sàng để Người sai đi. Ngoài ra, họ cũng cần phải hoán cải tâm hồn,
canh tân lòng trí mỗi ngày, để luôn mặc lấy con người mới, được tạo dựng theo
hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại từ cõi chết (x. HP 41). Đây được
xem như hơi thở của vị thừa sai, với hai nhịp luân hồi, hít vào là chiêm niệm
và thở ra là hoán cải.
Người ta bảo:
“Vô tri bất mộ”. Người viết tìm hiểu để biết rõ hơn, dù rằng không nhiều, cái gốc
ơn gọi của Dòng đã được kiến thiết, hầu có thể rèn luyện, định hướng, thêm lòng
biết ơn và yêu mến chính nơi mình thuộc về. Do vậy, bốn đặc nét của một vị thừa
sai DCCT chắc chắn vẫn là chưa đủ so với những gì Hiến Pháp mời gọi người tu
sĩ. Người viết tha thiết mời gọi bạn đọc hãy tiếp tục đào sâu Hiến Pháp, để thấy
được hơn khuôn mặt của một vị thừa sai DCCT đích thực.

