Joseph Tân Nguyễn ofm
“Lạy
Chúa, Ngài thật cao cả và đáng chúc tụng, quyền năng Ngài thật lớn lao và sự
khôn ngoan Ngài là vô hạn.” Đó là câu mở đầu chương một của Tự thú (Confessions,
viết tắt Conf.) của Thánh Augustinô thành Hippo. Ngài là con người có tầm
ảnh hưởng sâu rộng đến mức suốt 16 thế kỷ kể từ khi ngài hoán cải, ngài vẫn tiếp
tục là một sức mạnh trí tuệ, tâm linh và văn hóa quan trọng. Tuy nhiên, không
chỉ vì tài năng thiên phú về trí tuệ mà ngài được ngưỡng mộ đến thế. Hành trình
cuộc đời ngài, dù cuối cùng chiến thắng vẻ vang, lại phản ánh cuộc sống của nhiều
người vấp ngã trên đường đời, khao khát tìm kiếm ý nghĩa cho sự hiện hữu của
mình. Chúng ta đồng cảm và nhìn thấy chính mình qua những giằng co, kiếm tìm mục
đích và chân lý mà Augustinô đã trải qua. Chương này sẽ tìm hiểu những khúc
quanh trên hành trình Augustinô tìm kiếm Thiên Chúa qua các tác phẩm ngài để lại.
Khởi điểm
của hành trình
Augustinô
sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 trong một gia đình trung lưu tại Thagaste, một thị
trấn nhỏ ở Bắc Phi, nay thuộc Algeria. Cha ngài, Patricius Augustinô, là người
ngoại giáo, còn mẹ ngài, Monica, là một Kitô hữu sùng đạo không ngừng truyền đạt
đức tin cho con cái. Cha ngài không giàu có, tham gia chính quyền địa phương và
đặt nhiều kỳ vọng vào Augustinô trở thành một người có học thức cũng như cuộc sống
tốt đẹp hơn. Nhưng Augustinô lại mang trong mình một tinh thần phản kháng, khiến
giữa cha và con nảy sinh bất hòa. Monica, với lòng đạo đức bền bỉ, không ngừng
hy vọng rằng một ngày nào đó Augustinô sẽ hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, dù
lời van nài của bà thường rơi vào thinh lặng. Nếu Augustinô không chịu nghe bà,
Monica sẽ hướng về Đấng mà bà tin chắc sẽ không từ chối lời cầu xin của mình (Conf.
III). Thiên Chúa. Augustinô về sau sẽ hồi tưởng lại tình yêu của mẹ qua những
lời cầu nguyện kiên trì không ngơi nghỉ – một mẫu gương nhân đức đi theo ngài
suốt đời.
Augustinô
có một anh trai và một chị gái (chúng ta hầu như không biết gì), và có lẽ còn
những người em khác. Nhưng Augustinô là người được gia đình, đặc biệt là người
mẹ, dồn hết tình thương. Năm 12 tuổi, Augustinô được gửi đến học ở Maudauros
trong ba năm. Dù sau này trở nên nổi tiếng vì trí tuệ, Augustinô thời trẻ lại
ghét cay ghét đắng việc học. Có môn ngài thấy quá khó, có môn lại vô nghĩa. Ở bậc
tiểu học, ngài ham chơi hơn học, ngài thường bị phạt ở trường. Về sau, ngài đã
suy ngẫm lại chuyện đó, “Tôi ghét phải học, và tôi bị ép phải học” (Conf.
I). Nhưng khi lên bậc trung học, ngài cảm thấy yêu thích việc đọc các tác
phẩm của các thi sĩ La Mã lừng danh. Nhiều bạn học của ngài đã gắn bó với nhau
suốt đời. Sau bốn năm tại Maudauros, gia đình hết tiền và Augustinô phải về nhà
lúc 16 tuổi.
Trong một
năm tận hưởng sự tự do tại nhà, Augustinô giao kết với một nhóm bạn hư hỏng,
thường đi chơi khuya và quấy phá làng xóm. Một đêm, họ lẻn vào nhà vườn của người
lạ và trộm lê. Họ chẳng hề có ý định ăn chúng – những trái lê đó chẳng ngon, chẳng
đẹp mắt – nhưng họ chỉ muốn hái thật nhiều rồi ném cho lũ heo. Với nhiều người,
hành vi ấy có vẻ chỉ là trò nghịch ngợm trẻ con, nhưng đối với Augustinô, về
sau ngài xem đó là một tội lỗi nghiêm trọng. Kết luận của ngài là họ làm vậy chỉ
vì tìm được niềm vui khi làm điều xấu và đây là dấu vết thương tích từ hậu quả
của tội nguyên tổ, con người có khuynh hướng tìm vui thích nơi những điều sai
trái (Conf. II). Qua thời gian, ý chí bị yếu đi, hành vi tội lỗi trở
thành thói quen và con người trở nên đồi bại vì vậy. Augustinô xem đây là cuộc
chiến suốt đời. Toàn bộ cuộc sống trần thế là một thử thách, một cuộc đấu tranh
để làm điều thiện chống lại sự dữ tiềm ẩn trong chính chúng ta, trong ý chí yếu
đuối của ta (Conf. X).
Không
lâu sau đó, cha ngài – Patricius – lâm bệnh và qua đời. Nhưng trước khi chết,
ông đã hoán cải và trở thành Kitô hữu. Những lời cầu nguyện và gương sáng của
Monica cuối cùng đã cảm hóa được người chồng. Với tay trắng, tưởng như việc học
của Augustinô phải chấm dứt, nhưng có một phú hộ ở Thagaste, Romanianus, để ý đến
năng khiếu văn chương của Augustinô và muốn giúp chàng thư sinh trẻ. Nhờ sự bảo
trợ này, Augustinô được gửi đến Carthage để tiếp tục học hành (371)– một ước mơ
trở thành hiện thực đối với ngài.
Carthage
là một thành phố ngoại giáo, người ta còn thờ nữ thần Tanit. Augustinô mô tả
Carthage như một “lò luyện của những tình yêu bất chính” (Conf. III)—hẳn
rất phóng đãng đối với một cậu bé tỉnh lẻ. Lúc ấy 17 tuổi, ngài bắt đầu chung sống
với một người phụ nữ (không rõ tên), người đã sinh cho ngài một con trai, được
đặt cái tên sùng tín “Adeodatus” (“được Thiên Chúa ban”). Augustinô khẳng định
ngài chung thủy với bà (Conf. IV). Chúng ta không biết cậu quan trọng thế
nào đối với cha mình khi còn nhỏ, nhưng đối thoại Người Thầy (De
Magistro) là minh chứng cho những cuộc trò chuyện triết học sâu sắc giữa
Augustinô và Adeodatus khi cậu ở tuổi thiếu niên.
Môn học
của Augustinô khi theo học ở Carthage là tu từ học. Ngài kể rằng mình đứng đầu
lớp (Conf. III), và ta có thể dễ dàng tin điều đó. Khó có thể hình dung
rằng bất kỳ bạn học nào của ngài khi ấy lại có tài năng hoặc sắc sảo ngang bằng.
Cũng tại Carthage, Augustinô đã khám phá ra Cicero, người trở thành vị thầy triết
học chủ yếu của ngài. Việc đọc tác phẩm Hortensius của Cicero (nay đã thất
truyền) đã thay đổi cuộc đời ngài, tạo nên niềm khao khát cho triết học. Cicero
vốn không phải là một triết gia sáng tạo, mà đúng hơn là một nhà trình bày sinh
động tư tưởng của người khác. Chính nhờ Cicero mà Augustinô biết đến triết lý
hoài nghi, cùng với những quan điểm của các triết gia Khắc kỷ và Khoái lạc.
Những
lôi cuốn đầu đời
Dù vẫn
bị cám dỗ bởi xác thịt, Augustinô vẫn say mê học tập. Ngài học thuật hùng biện,
toán học, âm nhạc và triết học. “Tâm trí bồn chồn của tôi hoàn toàn hướng đến
việc tìm kiếm tri thức” (Conf. III). Trong thời gian này, triết học
đã gieo vào lòng ngài sự khao khát tìm kiếm khôn ngoai. Nhưng khôn ngoan là gì?
Làm sao đạt được? Qua các thầy dạy, ngài tiếp cận nhiều ý tưởng mới. Ngài sẵn
sàng mở lòng trước bất kỳ điều gì.
Sau đó,
Augustinô bắt đầu thử đọc Kinh Thánh Kitô giáo “để xem nó như thế nào”,
nhưng sớm bị thất vọng vì ngài nhận thấy Kinh Thánh “không xứng đáng so với
sự cao quý của Cicero. Bản dịch Kinh Thánh ngài có là thứ Latin bình dân,
thô sơ thiếu sự hoa mỹ, hùng hồn và uyên bác. Kinh Thánh chứa đầy những câu
chuyện mà ngài cho là phản cảm – như các tổ phụ thì đa thê, có tì thiếp và ngoại
tình. Làm sao chững câu chuyện tưởng như xấu xa ấy lại được nêu gương cho đức
tin? Augustinô bị sốc và đi tìm điều gì đó “thanh cao” hơn. “Tôi coi các
sách Kinh Thánh là thứ thấp kém hơn văn chương trần gian” (Conf. III).
Vào thời
đó, tuy Kitô giáo đã được hợp pháp hóa hơn nửa thế kỷ và đang phát triển mạnh,
nhưng không phải là tôn giáo duy nhất trong đế quốc. Các đền thờ cổ vẫn còn hoạt
động, và nhiều tôn giáo mới từ phương Đông du nhập, trong số đó có phái Manikê.
Đây là một giáo phái nhị nguyên có gốc ngộ giáo do Mani, người Ba Tư, sáng lập.
Phái Manikê đề cao lý trí, khoa học và triết học, Dưới lớp vỏ bọc Kitô giáo,
Mani tự nhận là Tông Đồ của Đức Kitô, cho rằng Đức Kitô không hề sinh ra, không
làm người, và không chịu chết. Mani đưa ra các “chân lý” mới để thu hút
những người đang tìm kiếm. Augustinô ngưỡng mộ lối sống kỷ luật và đạo đức của
các tín đồ Manikê. Ngài gia nhập phái lạc giáo này với tư cách một “thính đồ” (auditor)
và tìm kiếm sự khổ luyện cũng như trật tự trong đời sống mình.
Khoảng
25 tuổi, Augustinô đưa người tình và con trai, trở về Thagaste và mở lớp dạy
khoa hùng biện, một kỷ năng thiết yếu cho sự thành đạt trước công luận. Bên cạnh
đó, giới tinh hoa Manikê (the Perfect, the Elect) cũng tổ chức giảng
dạy và hứa hẹn: “Chúng tôi sẽ trao cho bạn một bí mật, điều mà không ai khác
biết, và nó sẽ mở khóa mọi huyền nhiệm của vũ trụ” (Conf. III). Những hứa hẹn
này rất lôi cuốn đối với giới tri thức cùng lứa với Augustinô vốn đang khao
khát tìm kiếm sự khôn ngoan. Monica kinh hãi khi biết con mình theo phái
Manikê, và dù lòng rất đau xót, bà nhất quyết không cho Augustinô đặt chân vào
nhà. Augustinô tìm đến vị ân nhân của mình là Romanianus và ở đó Augustinô được
ưu đãi mọi bề. Trong khi tiếp tục theo đuổi tham vọng của mình, tiếng tăm của
ngài càng ngày càng gia tăng nhờ các bài diễn thuyết. Được thành công khích lệ,
Augustinô tin chắc mình đang đi đúng đường — cho đến khi có một biến cố khiến
ngài khựng lại.
Augustinô
muốn mở rộng tri thức của mình về chân lý và mang những câu hỏi về nguồn gốc của
sự dữ đến với các thầy Manikê. Nhưng họ nói, “Hãy đợi Faustus đến, ngài sẽ
giải đáp hết thảy.” Faustus là một giám mục Manikê trứ danh lúc bấy giờ.
Augustinô đã chờ đợi suốt chín năm mới gặp được Faustus khi ông đến Carthage.
Nhưng cuộc gặp gỡ ấy lại trở thành một thất vọng lớn. Augustinô viết: “Khi tôi nêu lên vài vấn đề
làm tôi khắc khoải, tôi nhận ra ngay ông ta không biết gì nhiều ngoài ngữ pháp
và văn chương; kiến thức của ông chỉ mang tính sách vở. Ông đã đọc vài bài diễn
văn của Cicero, một ít sách của Seneca, một số bài thơ, và vài tác phẩm của
chính giáo phái mình được viết bằng một thứ Latinh văn hoa” (Conf. V).
Lúc đó
Augustinô 29 tuổi, mất dần hy vọng rằng giáo phái Manikê có thể giải quyết những
vấn đề trí thức của mình. Chán nản, Augustinô trở nên dè dặt hơn trước những gì
họ trình bày (Conf. V). Trong lúc đó, Monica tiếp tục cầu nguyện khẩn
thiết và tìm sự hướng dẫn thiêng liêng nơi nhiều giáo sĩ. Bà sự trợ giúp nơi một
giám mục trong hàng ngũ Manikê khi còn trẻ, nhưng vị này từ chối nói chuyện với
Augustinô. Trước nước mắt và lời cầu nguyện tha thiết của Monica, vị giám mục
này đã tiên tri rằng, “Hãy cứ để cậu ấy đi, và tiếp tục sống như cậu ấy đang
sống; vì nếu cậu ấy là một người lạc xa sự thật, cậu ấy sẽ tự khám phá ra điều
đó và quay trở lại” (Conf. III).
Sau gần
ba năm dạy môn hùng biện ở Carthage, Augustinô chán ghét sự vô kỷ luật nơi học
trò. Ngài lập kế hoạch đi Rôma, bỏ lại quá khứ và mọi sự ràng buộc để được tự
do theo đuổi tham vọng và ước muốn của mình. Nhưng mẹ ngài cứ lẽo đẽo bám theo
ngài đến bất cứ nơi nào ngài tới. Cuối cùng, Augustinô đã làm một việc vô cùng
dối trá. Ngài đưa mẹ mình đến đền Thánh Cyprianô, vị tử đạo Phi Châu lừng danh ở
bến tàu, và dặn dò bà: “Mẹ chờ ở đây, con đi chào tạm biệt một người bạn, rồi
con sẽ quay lại đón mẹ, chúng ta cùng đi Rôma.” Nhưng thay vì quay lại,
Augustinô âm thầm lên tàu và thẳng tiến đến Rôma. Sáng hôm sau không thấy con
mình trở lại, Monica đã khóc hết nước mắt (Conf. V).
Kinh
thành sáng chói
Augustinô
đến Rôma năm 384. Kinh thành sáng chói này có ý nghĩa lớn đối với Augustinô.
Ngài tự hào về gia sản văn hóa của đế quốc, và Rôma không chỉ là một kinh thành
mà còn là biểu tượng của di sản ấy — thành phố của Virgil, Cicero; là nơi chứa
đựng bao điều ngài đã học, đã nghiền ngẫm, đã thừa hưởng từ tổ tiên. Hẳn ngài
vô cùng hân hoan khi có cơ hội đến Rôma, mở khóa dạy môn hùng biện và nhận học
trò ở thành phố lừng danh đó. Ở tuổi 30, Augustinô ngài vẫn còn đủ trẻ để xây mộng
lý tưởng của mình. Ngài nghĩ học trò bên kia bờ biển sẽ khác, nhưng ngài đã lầm,
học trò ở đâu cũng là học trò. Họ đến nghe giảng, khoe khoang rằng mình theo học
một thầy danh tiếng, nhưng tới ngày đóng học phí thì biến mất. Rốt cuộc,
Augustinô “lãnh đủ” hóa đơn, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Gần như cạn tiền, sức
khỏe yếu, Augustinô thấy mình lạc lõng nơi kinh thành diễm lệ (Conf. V).
Chính
vào lúc ấy, cơ hội vàng đến với Augustinô từ một vị bảo trợ mới. Symmachus, một
nghị viện quý tộc ở Rôma — với ao ước đưa đế quốc trở lại thời huy hoàng cổ xưa
bằng cách quay về tôn giáo truyền thống, thờ kính các thần của La Mã cổ.
Symmachus vận động phục hồi các tôn giáo cũ, tái thiết “Bàn thờ Nữ thần Chiến
thắng” cùng những nghi lễ tế tự tại đó. Ông tin điều ấy sẽ mang lại lợi ích cho
dân chúng. Ông cần đồng minh và đã chiêu mộ được Augustinô, một trí thức trẻ lỗi
lạc đầy hứa hẹn với tài hùng biện xuất chúng. Augustinô sẽ làm việc dưới trướng
của Symmachus.
Thế là
chỉ sau một năm, Augustinô lại dời lên Milan, làm việc dưới quyền viên tổng trấn
mới của thành phố. Khi ấy, Ambrôsiô là giám mục tại nhà thờ chính tòa của Milan
và Augustinô bắt đầu lắng nghe các bài giảng của ngài. Ambrôsiô từng có một sự
nghiệp chính trị thành công trước khi hoán cải Kitô giáo vào tuổi trung niên.
Ngài uyên thâm trong học vấn Hy Lạp cổ điển. Augustinô chưa từng biết ai như thế
ở Carthage, chứ đừng nói ở Thagaste. Ambrôsiô đón tiếp Augustinô như tâm tình
nhân hậu của một người cha. Khi ấy, Augustinô bị thu hút bởi tài hùng biện và vẻ
đẹp ngôn từ, chứ chưa về nội dung của những bài giảng thuyết của vị giám mục
này. Ngài viết: “Con bắt đầu yêu mến ngài… Con say mê nghe ngài giảng cho
dân chúng, không phải với tâm thế đúng đắn, mà như thể chỉ để kiểm nghiệm tài
hùng biện của ngài, xem có xứng với tiếng tăm hay không, và liệu sự trôi chảy ấy
hơn hay kém lời đồn. Con chăm chú vào giọng điệu của ngài, nhưng vẫn dửng dưng
và khinh bỉ nội dung. Niềm vui của con là ở vẻ đẹp của ngôn từ” (Conf.
V).
Khi ấy,
thủ phủ của đế quốc Rôma đặt tại Milan. Symmachus mời Augustinô giữ ghế giáo sư
hùng biện ở Milan — một vị thế vừa danh giá vừa có ảnh hưởng (Conf. V).
Giờ đây, Augustinô có cơ hội nắm bắt những gì ngài đã mơ ước. Là một diễn giả
hùng biện, Augustinô sở hữu những kỹ năng mà người Rôma coi trọng. Ngài sớm trở
thành “tiếng nói” của triều đình, cỗ máy tuyên truyền vốn tạo nên quan hệ công
chúng và truyền tải thông điệp. Công việc của Augustinô là sáng tác và tuyên bố
những bài đọc trước công chúng, ca ngợi các đức hạnh của hoàng đế và tán dương
chiến thắng quân sự. Đây là một vị trí then chốt tại Milan thời bấy giờ. Trong
chức vị mới, Augustinô thăng tiến cả thế lực lẫn tiền tài.
Khám
phá Ambrôsiô và Triết lý Tân-Platô
Tại
Milan, Augustinô có cơ hội ngưỡng mộ những bài giảng sâu sắc và đầy sức mạnh của
giám mục Ambrôsiô.[1] Câu chuyện
Ambrôsiô trở thành giám mục tại Milan thật ly kỳ. Trong khi có một cuộc xung đột
xảy ra giữa Giáo hội và phái Ariô, Ambrôsiô đến xem và giúp giải quyết. Dân
chúng thấy ngài là người có tài và thích hợp nhất để đại diện cho họ, mọi người
hô to: “Ambrôsiô--Giám mục!” Ambrôsiô bỏ trốn vào nhà một người bạn, nhưng sau
đó “bị nộp” cho công chúng do lệnh của triều đình. Chỉ trong vòng một tuần,
ngài lãnh nhận bí tích Thánh tẩy và được tấn phong giám mục — một chức vụ mà
ngài tin là do thánh ý Thiên Chúa.
Cuối
cùng thì Monica cũng đến Milan tái hợp với con người. Monica cũng bị lôi cuốn bởi
Ambrôsiô và thúc giục Augustinô đến gặp vị giám mục này. Augustinô chiều theo
và dùng địa vị của mình cùng với các thắc mắc của mẹ để tiếp cận vị giám mục
tài năng này. Thế là Augustinô trở thành “người đưa tin,” đem các câu hỏi tôn
giáo của bà đến Ambrôsiô. Augustinô có cơ hội tìm hiểu về lối suy nghĩ thấu đáo
cũng như nền tảng triết học của Ambrôsiô. Augustinô nhận ra nơi vị giám mục này
sự khôn ngoan, bình an và một tĩnh tại mà ngài đang khát khao.
Ambrôsiô
diễn giải Kinh Thánh theo lối ẩn dụ, rất khác với cách hiểu thô sơ của phái
Manikê mà ngài đã từng biết. Ambrose cho thấy đức tin
không hề mâu thuẫn với lý trí. Từ đó, các định
kiến mà Augustinô từng có khi chê Kinh Thánh “thô lậu” bị xóa tan (Conf. V).
Trước đây ngài coi Kinh Thánh chỉ là những huyền thoại Cận Đông cổ xưa và khó
mà nghiêm túc tiếp nhận. Khi đọc các đoạn như phép lạ bánh và cá, Augustinô chi
chỉ đơn thuần hiểu đó như là chuyện bánh và cá, thay vì nhìn ra ý nghĩa biểu tượng.
Tuy
say mê với tri thức mới, nhưng Augustinô vẫn chưa sẵn sàng ôm lấy đức tin của
giám mục Ambrôsiô (Conf. IX).
Tại
Milan, Augustinô bắt đầu đọc triết Hy Lạp
và tiếp xúc với tư tưởng Tân-Platô. Augustinô
tiếp cận các tác phẩm của Plotinus qua học trò lớn của ông là Porphyry và phát
triển các lập luận chống lại phái Manikê. Ngài viết, “Qua các sách của Platô,
tôi được nhắc nhở hãy trở về với chính mình” (Conf. VII). Kết quả
là một trải nghiệm về ánh sáng nội tâm đầu tiên của ngài: “Cùng với Ngài [lạy
Chúa] là Đấng hướng dẫn, con bước vào thành trì sâu thẳm nhất của lòng mình, và
con có thể làm được điều đó bởi Ngài đã trở thành Đấng trợ giúp con. Con đã bước
vào, và với ‘con mắt linh hồn’ của con, con đã nhìn thấy, trên chính con mắt
đó, một ánh sáng bất biến vượt trên tâm trí con—không phải ánh sáng thường nhật
mà ai cũng thấy, cũng không phải thứ ánh sáng lớn lao hơn cùng loại, vốn chiếu
tỏa sáng hơn và tràn ngập mọi sự bằng sự rộng lớn của nó. Không phải ánh sáng ấy,
mà là một điều gì đó hoàn toàn khác, khác hẳn với mọi thứ ánh sáng chúng ta biết”
(Conf. VII).
Phong trào Tân-Platô tại Milan đã đem lại hứng thú mới
cho Augustinô. Đây là những nhà trí thức đang hồi phục triết lý Platô cổ đại
cho một thời đại mới đầy phấn khởi. Nhiều Kitô hữu đương thời cũng nhận thấy học
thuyết này cởi mở với tôn giáo và kinh nghiệm thiêng liêng. Ý tưởng của
Plotinus về thế giới bất biến và siêu việt hơn thế giới vật chất, đã cho
Augustinô một phạm trù tư duy mới. Ngài bắt đầu suy tư về Thiên Chúa, không như
một thực thể vật chất, mà là nguồn của Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối. Ánh sáng chân
lý bắt đầu chiếu soi vào tâm trí ngài, không như những hình ảnh giả tạo và hời
hợt của Manikê, mà từ Thiên Chúa của Kinh Thánh.[2]
Augustinô học được cách hình dung về Thiên Chúa như một
Đấng vô hình nhưng hiện hữu khắp nơi (Conf. VII). Lúc đó ba vấn đề làm
cho ngài băng khoăn là: (1) Thiên Chúa vô hình hiện hữu ra sao? (2) Thiên Chúa
hiện diện khắp mọi nơi thế nào? và (3) Đâu là nguồn gốc của sự dữ (unde
malum)? Ngài bắt đầu kết nối
tính phi vật chất của linh hồn với sự hiện diện của Thiên Chúa nơi đời sống nội
tâm. Lý trí của ngài muốn tiến xa hơn nữa đến Thiên Chúa, nhưng tâm hồn ngài
còn bị giằng xé giữa những gì lý trí đã được thuyết phục và sự bám víu vào những
thói quen dục vọng của lối sống cũ.
Một biến cố chính trị phức tạp tại Milan đã
thu hút toàn bộ sự chú ý của Augustinô. Đế quốc khi ấy được cai trị bởi hoàng đế
trẻ tuổi Valentinianô II, nhưng thực quyền nằm trong tay mẹ ngài là hoàng hậu
Justina, vốn là người theo phái Ariô. Đây là nhóm lạc giáo phủ nhận sự đồng bản
thể và đồng vĩnh cửu của Đức Kitô với Chúa Cha. Hoàng hậu Justina ra lệnh cho
giám mục Ambrôsiô giao nhà thờ chánh tòa Milan cho các giáo sĩ phái Ariô. Khi bị
từ chối, bà Hoàng hậu dùng sức mạnh quân sự bao vây ngôi thánh đường. Ambrôsiô
huy động cộng đoàn Kitô hữu vào bên trong nhà thờ, hát thánh thi, đọc Thánh Vịnh,
nghe giảng và cầu nguyện không ngơi nghỉ. Có cả Monica trong số những người can
đảm ấy, khích lệ giáo dân giữ vững niềm tin.[3]
Đó là hành động táo bạo vì bất cứ lúc nào quân lính cũng có thể ập vào và không
để lại ai sống sót.
Trước mối
đe dọa đó, Ambrôsiô giữ vững tinh thần kiên định và chuẩn bị sẵn sàng chịu tử đạo.
Augustinô lúc ấy giằng xé nội tâm dữ dội vì ngài có những người bạn ở cả hai
phe và mẹ ngài đang ở trong nhà thờ. Mối nguy mất mẹ là điều thực sự ám ảnh
ngài (Conf. IX). Lòng can đảm và đức tin sắt đá của Ambrôsiô cùng với
giáo dân cuối cùng đã xoay chuyển tình thế và triều đình đành rút quân.
Ambrôsiô đã giành được cảm tình của cả binh lính và Giáo hội giữ được ngôi
thánh đường. Sự kiện này để lại ấn tượng sâu sắc nơi Augustinô. (Conf. IX).
Hoán cải
và chịu phép rửa
Ở đỉnh
cao sự nghiệp và trung tâm quyền lực tại Milan, Augustinô và các bạn sống trong
một biệt thự và cùng nhau truy cầu chân lý qua triết học (Conf. IX). Ngài đề xuất một chương trình giáo dục gồm các nghệ
thuật nhân văn nhằm dẫn người học đến sự minh triết thần linh. Cho dù
lý trí đã được thuyết phục nhưng cuộc đấu
tranh nội tâm của Augustinô thì vẫn chưa kết thúc. Ý chí của ngài bị ràng buộc
bởi những thói quen và ham muốn cũ. Hàng đêm ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin
ban cho con tiết độ và khiết tịnh – nhưng chưa phải bây giờ.” Trong lúc ấy,
Monica không tranh cãi, không ép buộc, chỉ khóc và âm thầm cầu nguyện.
Trong bối
cảnh đó, Augustinô mô tả mình là một kẻ “bệnh hoạn trong linh hồn”. Có
nhà cửa, bạn hữu, triết học – tất cả những điều ngài mơ ước – nhưng vẫn chưa
tìm được hạnh phúc. Cho đến một ngày nọ, có một viên chức triều đình đến thăm
ngài – Ponticianus một người đồng hương châu Phi đã cải đạo. Ponticianus thấy một
cuốn sách trên bàn và kể cho Augustinô nghe về hai người bạn – cũng là quan chức
– đã một lần lạc vào một tu viện, tình cờ đọc cuốn Cuộc Đời Thánh Antôn do
Athanasiô viết. Họ bị đánh động sâu sắc bởi gương sống từ bỏ tất cả để ẩn tu
nơi sa mạc cầu nguyện và phụng sự Thiên Chúa. Cuối cùng, cả hai người đều hủy
hôn và vào tu viện.
Nghe
xong, Augustinô bồi hồi và bật khóc. Ngài nói: “Với tất cả những gì chúng ta
có – học vấn, cơ hội – hai người kia ít học hơn chúng ta rất nhiều, thế mà họ lại
vào Nước Trời trước chúng ta” (Conf. VIII). Ngài muốn từ bỏ đam mê xác thịt, nhưng lại
trì hoãn mãi. Cuộc dằng co nội tâm lên đến đỉnh điểm trong một khu vườn ở
Milan, khi ngài nghe thấy tiếng hát của một đứa trẻ vọng vào: “Tolle, lege;
tolle, lege” – “Hãy cầm lên mà đọc.” Augustinô tin rằng đó là lời
Thiên Chúa gửi đến ngài. Ngài vội vàng mở Kinh Thánh và đọc lời thư thánh
Phaolô: “Đừng sống trong chè chén say sưa, dâm dục, ganh tỵ, nhưng hãy mặc lấy
Đức Kitô.” (Rm 13,13–14). Đọc xong câu ấy, trí tuệ, con tim và ý chí
của ngài đều đầu hàng Thiên Chúa. Ngài kể lại, “ánh sáng đức tin tuôn tràn
trong tâm hồn tôi, mọi bóng tối nghi ngờ đều tan biến” (Conf. VIII).
Đây là
bước ngoặt quyết định. Augustinô, kẻ từng miệt thị Kinh Thánh, giờ đây gục ngã
trước lời Thiên Chúa. Lý trí, cảm xúc và ý chí đều quy phục. Sau đó, ngài từ bỏ
sự nghiệp, cùng người tình và con trai Adeodatus và vài người bạn lui về sống ẩn
dật tại Cassiciacum để học hỏi và cầu nguyện. Tại đây, ngài tổ chức các cuộc đối
thoại triết học với bạn bè và viết tác phẩm triết học đầu tiên còn tồn tại, “Chống phái Hàn Lâm” (Contra Academos) cùng với
ba cuốn khác. Sự thất vọng vì không thấy điều mình mong đợi trong Kinh Thánh,
giờ đây được thỏa mãn với chiều sâu thiêng liêng của Cựu Ước. Càng ngày,
Augustinô càng tiến gần đến đức tin Kitô giáo.
Augustinô chuẩn bị lãnh Bí tích Rửa Tội.
Khi
ngài báo tin cho Monica, bà không “nhảy lên vì vui sướng” như ngài tưởng,
nhưng đã cho biết là bà đã được Thiên Chúa đảm bảo rằng trước khi chết, bà sẽ
thấy con mình sẽ trở nên một tín hữu trọn vẹn (Conf. IX). Ở thế kỷ IV, cải
đạo là một hành trình dài, đầy thử thách. Các Kitô hữu vẫn còn đối diện với
bách hại, và vì thế, những dự tòng (catechumen) cần phải có sự hiểu biết
rõ ràng về giáo lý và những đòi hỏi nơi việc đi theo con đường mới. Các dự tòng
sẽ được giáo lý viên hướng dẫn tìm hiểu nền tản căn bản của đức tin, sự sa ngã
và cứu độ, lịch sử thánh, cùng với những quy luật luân lý. Augustinô khiêm tốn,
cùng với Adeodatus khi ấy khoảng 15 tuổi, tham gia học hỏi chương trình dự tòng
này. (Conf. IX)
Sau thời
gian chuẩn bị, năm 387 Augustinô được Giám mục Ambrôsiô rửa tội — một biến cố mở
ra một chương mới trong lịch sử Hội Thánh. “Sau nhiều năm tìm kiếm, trí tuệ
và đức tin đã gặp nhau — và con người mới đã được sinh ra trong ngài” (Conf.
IX). Trong đêm vọng Phục Sinh – đỉnh cao của nghi thức rửa tội – Giám mục
công bố các bài đọc dài từ Cựu Ước, thuật lại toàn bộ lịch sử cứu độ: câu chuyện
Abraham và Isaac, cuộc Xuất Hành qua Biển Đỏ dưới sự dẫn dắt của Môsê, các lời
tiên tri loan báo về Đấng Cứu Thế, và cuối cùng là cuộc Khổ Nạn – Phục Sinh của
Đức Kitô. Những mầu nhiệm này là sự ứng nghiệm của toàn bộ Cựu Ước nơi Đức
Giêsu Kitô – Mầu nhiệm Vượt Qua.
Sau khi
giảng giải những mầu nhiệm ấy, Giám mục dẫn các dự tòng vào phòng rửa tội. Theo
truyền thống lúc bấy giờ, Augustinô cởi bỏ toàn bộ y phục như biểu tượng của
con người cũ, để chuẩn bị đón nhận sự sống mới. Vị Giám mục dìm ngài xuống nước
ba lần nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – công thức mà Giáo Hội
vẫn dùng cho đến nay. Sau đó, Augustinô được khoác lên một áo trắng – biểu tượng
cho cho việc tẩy xóa tất cả tội lỗi của lối sống cũ và khởi đầu đời sống mới.
Augustinô, con trai Adeodatus và người bạn thân Alypiu cùng chịu phép rửa và niềm
vui sâu sắc ấy. Monica, người đã suốt đời kiên trì cầu nguyện cho sự hoán cải của
con mình, nay được chứng kiến khoảnh khắc đó với nước mắt hân hoan (Conf. IX).
Tình
yêu và nước mắt
Cuộc đời của Augustinô gồm đầy dẫy những mối tình sâu
đậm cũng như sự mất mát. Điển hình nhất là biến cố về cái chết của người bạn
thân vô danh, người mà Augustinô đã đưa vào đạo Manikê. Khi anh ta lâm trọng bệnh,
gia đình mời linh mục đến rửa tội và điều đó đủ để biến đổi nội tâm anh.
Augustinô định sau đó sẽ hỏi bạn vì sao lại bỏ đạo Manikê. Nhưng cơ hội đã
không còn, hai tuần sau, người bạn thân đã qua đời. Bàng hoàng với cái chết của
người bạn chí thiết, Augustinô rất đau đớn và đã sau này đã mô tả về trải nghiệm
này trong sách Tự Thú: “Mắt tôi tìm kiếm anh ở khắp nơi, nhưng anh đã không
còn đó. Tôi ghét tất cả mọi sự, vì chúng không có anh; cũng không ai có thể bảo
tôi ‘kìa, anh ấy đang trên đường tới,’ như khi anh còn sống mà vắng mặt. Tôi đã
trở thành một vấn nạn khổng lồ cho chính mình” (Conf. IV). Augustinô
cho rằng Thiên Chúa nhân lành đã “giật lấy” người bạn ấy khỏi ngài để
anh không bị kéo vào lạc lối của phái Manikê. Cái chết ấy làm cho Augustinô suy
nghĩ về tình bạn là mối liên kết sâu xa giữa các linh hồn, và khi mối dây ấy bị
cắt đứt, nỗi buồn trở thành vết thương rỉ máu trong tâm hồn. Vì thế, muốn tránh
đau khổ, con người nên học cách yêu điều bất biến.
Từ lúc còn ở Carthage, Augustinô gắn bó thủy chung với
một người phụ nữ không danh phận suốt mười hai năm. Nhưng để chuẩn bị chịu phép
rửa, Augustinô cần một cuộc hôn nhân chính thức. Người tình thuộc tầng lớp thấp
hơn và không thể kết hôn theo luật thời đó, phải trở về Bắc Phi. Augustinô rất
đau đớn, nhưng ngài hiểu rằng đó là điều cần thiết. Cô ta là một phụ nữ có phẩm
giá và sự cao quý khiến ngài kính phục. Trước khi rời đi, cô nói rằng sẽ luôn
yêu ngài và không bao giờ yêu người đàn ông nào khác. Cô trở thành hình mẫu đạo
hạnh cho Augustinô, và trái tim tan vỡ ấy đã chữa lành trái tim ngài mãi mãi.
Ngài diễn tả nỗi đau ấy bằng những ngôn từ tương tự như khi mất người bạn thân
năm xưa. Người phụ nữ này giúp ngài vượt lên trên dục vọng thuần túy. Augustinô
thổn thức: “Khi tôi mất người ấy, linh hồn tôi tan nát vì tôi đã đánh mất một
linh hồn là một phần của chính tôi” (Conf. IV). Mọi điều thiện hảo
trên đời này đều có thể mất. Cũng thế, tội lỗi là sự đánh mất của sự thiện đang
hiện diện.
Kế tiếp, cái chết của Adeodatus, con trai của
Augustinô là người cùng ngài lãnh nhận phép Rửa Tộ, làm cho ngài đau lòng không
ít. Cậu bé được miêu tả là rất thông minh và sâu sắc (De Magistro). Mối
liên kết thiêng liêng này giữa cha và con cũng là biểu tượng cho sự tái sinh
tâm linh của chính Augustinô. Nhưng lần này Augustine đã có đức tin để nương tựa
qua sự mất mát của đứa con trai thân yêu.
Quan trọng nhất là Monica – là một người mẹ Công giáo
mẫu mực, luôn kiên trì cầu nguyện cho con (Conf. III). Monica không ngừng
tìm mọi cách đưa con trở về Hội Thánh. Bà đã khóc rất nhiều về đứa con lạc giáo
và than thở với một linh mục người đã nói với bà: “Không thể nào con của những
giọt nước mắt ấy lại bị hư mất” (Conf. III). Bà là một người mẹ can
đảm, dùng lời lẽ đến từ chính Thiên Chúa để cảnh tỉnh Augustinô khỏi dục vọng
và tội lỗi. Trong một giấc mộng, bà thấy mình và con cùng đứng trên cùng một thước
đo đức tin, và một thiên sứ bảo: “Nơi nào bà ở, con trai bà sẽ ở đó” (Conf.
III). Khi Augustinô cố diễn giải sai giấc mộng theo hướng Manikê, nhưng Monica
bác bỏ ngay lập tức.
Monica đã khóc rất nhiều khi Augustinô nói dối với bả
để bỏ trốn sang Rôma. Augustinô mô tả Monica đang đứng bên biển, nước mắt giàn
giụa, cầu nguyện cho ngài (Conf. V). Dù đau khổ, bà không bỏ cuộc. Khi
ôn lại những hoài bảo của mẹ mình, Augustinô cho rằng lúc ấy, Monica “đang ở
vùng ngoại ô Babylon” (Conf. II). Bà trì hoãn việc rửa tội cho con cho đến
khi nó vượt qua thời kỳ buông thả. Bà khao khát sự thành công của đứa con thông
minh nên ngăn cản nó cưới vợ quá sớm – vô tình tước mất liều thuốc tốt nhất chống
lại dục vọng tuổi trẻ. Khi Augustinô ngoài 30 tuổi và đã leo cao trên nấc thang
thành công, Monica sắp đặt một cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” với một tiểu thư
Kitô hữu còn dưới tuổi. Nhưng cuộc hôn nhân không thành này là trái ngược với
ơn gọi tu trì của Augustinô (Conf. VI). Nước mắt của Monica là hỗn hợp,
vừa vì linh hồn con, vừa vì bà muốn giữ con bên mình. Nước mắt ấy vừa là dấu chỉ
tình yêu Thiên Chúa tiền định Augustinô được cứu rỗi, vừa là dấu cho thấy tình
yêu của Monica cần được thanh luyện.
Hành trình trở về nhà
Cùng với
Evodius[4], Augustinô
quyết định trở về Bắc Phi để lập một tu đoàn. Trong lúc chờ đợi tàu ở Ostia,
gia đình Augustinô tạm nghĩ tại một ngôi nhà với sân vườn. Augustinô kể lại một
cuộc trò chuyện thiêng liêng giữa ngài và mẹ khi hai người tựa cửa sổ nhìn ra
khu vườn thanh bình. Mười hai năm sau (397), Augustinô ghi lại biến có khó quên
này: “Cuộc trò chuyện dẫn chúng tôi đến kết luận rằng mọi thú vui của giác
quan thể xác, dù có hấp dẫn đến đâu trong ánh sáng huy hoàng của thế giới vật
chất, so với đời sống vĩnh cửu thì chẳng đáng gì. Tâm trí chúng tôi bừng cháy
khát vọng hướng về Hữu thể vĩnh cửu. Từng bước, chúng tôi vượt qua mọi đối tượng
thể chất và cả bầu trời nơi mặt trời, mặt trăng và tinh tú chiếu sáng trái đất.
Chúng tôi còn đi xa hơn nữa nhờ nội tâm suy tư và kinh ngạc trước các công
trình của Ngài, rồi bước vào chính linh hồn mình. Chúng tôi vượt lên khỏi nó để
đạt đến miền phong phú vô tận, nơi Ngài nuôi dưỡng Israel đời đời bằng chân lý.
Ở đó, sự sống chính là sự khôn ngoan, nhờ đó mọi loài hiện hữu, đã có và sẽ có”
(Conf. IX).
Chỉ vài
ngày sau cuộc đàm thoại thiêng liêng ấy, Monica đột nhiên ngã bệnh và rơi vào
hôn mê. Khi tỉnh lại, Monica trăn trối: “Con ơi, với riêng mẹ, giờ đây mẹ
không còn thấy thú vui gì trong đời sống này nữa. Còn gì để mẹ làm, và tại sao
mẹ còn ở lại, mẹ không biết. Hy vọng của mẹ trong cõi đời này đã được hoàn tất.
Lý do duy nhất khiến mẹ muốn sống lâu hơn chỉ là để thấy con trở thành một Kitô
hữu Công giáo trước khi nhắm mắt. Thiên Chúa của mẹ đã ban điều ấy, còn vượt xa
điều mẹ dám hy vọng” (Conf. IX). Sau chín ngày bệnh, Monica qua đời, hưởng
thọ 56 tuổi. Augustinô vuốt mắt của mẹ mình và hát lên một trong những bài
thánh ca mà bà yêu thích do Ambrôsiô sáng tác. Điều đó khơi lại tình cảm sâu đậm
với người mẹ thân yêu, và cho Augustinô sự bình an nội tâm giữa nỗi buồn.
Về cuộc hành trình trở về quê nhà, Augustinô đã từng
viết: “Cuộc sống là hành trình về nhà, nơi có Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu và
bất biến” (Conf. III). Tham vọng đã đưa ngài ra khỏi Phi châu,
nhưng ơn gọi đích thực lại dẫn ngài trở về. Không lâu sau đó, Augustinô thành lập
một tu đoàn, nơi ngài hy vọng có thể sống đời chiêm niệm và đào sâu Lời Chúa.
Đây là sự viên mãn của tất cả những gì ngài từng khao khát. Nhưng Thiên Chúa có
kế hoạch khác.
Một ngày nọ, khi đang tham dự phụng vụ tại Hippo, một
thành phố cảng lớn ở Bắc Phi, các tín hữu trong cộng đoàn nghe giám mục Valerius giảng Giáo hội đang thiếu linh mục, họ đã khẩn
khoản thuyết phục ngài chấp nhận phụ giúp vị giám mục. Thế là Augustinô được
truyền chức và năm năm sau trở thành Giám mục của Hippo. Ngài lập một cộng đoàn
đan tu ở Hippo, cùng lúc gánh vác những trách nhiệm mục vụ và hành chính. Hàng ngày, Augustinô phải giảng dạy, biện hộ đức tin
và hướng dẫn cộng đoàn trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Ngài trở thành một
mục tử vừa bảo vệ đức tin, vừa chăm lo phần rỗi các linh hồn.
Augustinô để lại khoảng 100 sách và
chuyên luận, 250 bức thư, và khoảng 500 bài giảng, bao gồm cả những bài chú giải
Thánh vịnh. Sự nghiệp trước tác của Augustinô có thể được xếp theo
ba giai đoạn. Giai đoạn đầu (386–395) tại Cassiciacum ngài viết các đối thoại
triết học Kitô giáo; chống Manikê và khi về đến Bắc Phi khởi đầu đời sống đan
tu; chịu chức linh mục và dạy Kinh Thánh cho dân chúng bình dân. Ở giai đoạn giữa,
Augustinô tập trung vào bản chất Hội Thánh, tính duy nhất và hợp lệ của bí tích
Rửa tội vốn được bảo toàn bởi đức ái, chứ không bởi sự tinh khiết như Đônatô chủ
trương. Giai đoạn cuối, ngài chú tâm vào giáo lý ân sủng, chống phái Pêlagiô, vốn
lạc quan về khả năng con người đạt sự hoàn hảo không cần ân sủng.
Augustinô mất ngày 28 tháng 8, 430, sau ba tháng thành
Hippo bị quân Vandals chiếm đóng. Ngài để lại ba tác phẩm quan trọng còn đang
viết lỡ dỡ, trong đó có phản hồi thứ nhì cho Juliano, một nhà lãnh đạo đầu não
của nhóm dị giáo Pelagiô. Một lá thư ngài đã đọc từ giường bệnh cho thư ký viết
xuống về các bổn phận của linh mục khi đối đầu với sự xâm chiếm của quân ngoại
ban. Ngài được chôn cất tại nhà thờ chính tòa của giáo phận, và vào khoảng năm
725, phần mộ của ngài đã được di dời về Pavia, và an nghĩ tại Vương Cung Thánh
Đường Thánh Phêrô tại Ciel d’Oro.
“Lạy
Chúa, Ngài thật cao cả và đáng chúc tụng, quyền năng Ngài thật lớn lao và sự
khôn ngoan Ngài là vô hạn.” Đó là câu mở đầu chương một của Tự Thú (Confessions,
viết tắc Conf.) của Thánh Augustinô thành Hippo. Ngài là con người có tầm
ảnh hưởng sâu rộng đến mức suốt 16 thế kỷ kể từ khi ngài hoán cải, ngài vẫn tiếp
tục là một sức mạnh trí tuệ, tâm linh và văn hóa quan trọng. Tuy nhiên, không
chỉ vì tài năng thiên phú về trí tuệ mà ngài được ngưỡng mộ đến thế. Hành trình
cuộc đời ngài, dù cuối cùng chiến thắng vẻ vang, lại phản ánh cuộc sống của nhiều
người vấp ngã trên đường đời, khao khát tìm kiếm ý nghĩa cho sự hiện hữu của
mình. Chúng ta đồng cảm và nhìn thấy chính mình qua những giằng co, kiếm tìm mục
đích và chân lý mà Augustinô đã trải qua. Chương này sẽ tìm hiểu những khúc
quanh trên hành trình Augustinô tìm kiếm Thiên Chúa qua các tác phẩm ngài để lại.
Khởi điểm
của hành trình
Augustinô
sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 trong một gia đình trung lưu tại Thagaste, một thị
trấn nhỏ ở Bắc Phi, nay thuộc Algeria. Cha ngài, Patricius Augustinô, là người
ngoại giáo, còn mẹ ngài, Monica, là một Kitô hữu sùng đạo không ngừng truyền đạt
đức tin cho con cái. Cha ngài không giàu có và tham gia chính quyền địa phương.
Ông đặt nhiều kỳ vọng vào Augustinô trở thành một người có học thức và có cuộc
sống tốt đẹp hơn. Nhưng Augustinô lại mang trong mình một tinh thần phản kháng,
khiến giữa cha và con nảy sinh bất hòa. Monica, với lòng đạo đức bền bỉ, không
ngừng hy vọng rằng một ngày nào đó Augustinô sẽ hiến dâng đời mình cho Thiên
Chúa, dù lời van nài của bà thường rơi vào thinh lặng. Nếu Augustinô không chịu
nghe bà, Monica sẽ hướng về Đấng mà bà tin chắc sẽ không từ chối lời cầu xin của
mình (Conf. III). Thiên Chúa. Augustinô về sau sẽ hồi tưởng lại tình yêu
của mẹ qua những lời cầu nguyện kiên trì không ngơi nghỉ – một mẫu gương nhân đức
đi theo ngài suốt đời.
Augustinô
có một anh trai và một chị gái (chúng ta hầu như không biết gì), và có lẽ còn
những người em khác. Nhưng Augustinô là người được gia đình, đặc biệt là người
mẹ, dồn hết tình thương. Năm 12 tuổi, Augustinô được gửi đến học ở Maudauros trong ba năm. Dù sau này trở nên nổi tiếng
vì trí tuệ, Augustinô thời trẻ lại ghét cay ghét đắng việc học. Có môn ngài thấy
quá khó, có môn lại vô nghĩa. Ở bậc tiểu học, ngài ham chơi hơn học, ngài thường
bị phạt ở trường. Về sau, ngài đã suy ngẫm lại chuyện đó, “Tôi ghét phải học,
và tôi bị ép phải học” (Conf. I). Nhưng khi lên trung học, ngài cảm
thấy yêu thích việc học, đặc biệt là đọc các tác phẩm của thi sĩ La Mã lừng
danh Virgil. Nhiều bạn của ngài đã gắn bó với nhau suốt đời. Sau bốn năm học tại
Maudauros, gia đình hết tiền và Augustinô phải về nhà lúc 16 tuổi.
Trong một
năm tận hưởng sự tự do tại nhà, Augustinô kết giao với một nhóm bạn hư hỏng,
thường đi chơi khuya và gây chuyện. Một đêm, họ lẻn vào vườn của hàng xóm và trộm
lê. Họ chẳng hề có ý định ăn chúng – những trái lê đó chẳng ngon, chẳng đẹp mắt
– nhưng họ lấy thật nhiều rồi ném cho lũ heo. Với nhiều người, hành vi ấy có vẻ
chỉ là trò nghịch ngợm trẻ con, nhưng đối với Augustinô, về sau ngài xem đó là
một tội lỗi nghiêm trọng. Kết luận của ngài là họ làm vậy chỉ vì tìm được niềm
vui khi làm điều xấu (Conf. II). Theo ngài, con người vốn mang thương
tích từ hậu quả của tội nguyên tổ, ý chí bị yếu đi, và có khuynh hướng vui
thích những điều sai trái. Qua thời gian, hành vi tội lỗi trở thành thói quen,
và con người trở nên đồi bại vì vậy. Augustinô kết luận: đó là cuộc chiến suốt
đời. Toàn bộ cuộc sống trần thế là một thử thách, một cuộc đấu tranh để làm điều
thiện chống lại sự dữ tiềm ẩn trong chính chúng ta, trong ý chí yếu đuối của ta
(Conf. X).
Không
lâu sau đó, cha ngài – Patricius – lâm bệnh và qua đời. Nhưng trước khi chết,
ông đã hoán cải và trở thành Kitô hữu. Những lời cầu nguyện và gương sáng của
Monica cuối cùng đã cảm hóa được người chồng. Với tay trắng, tưởng như việc học
của Augustinô phải chấm dứt, nhưng có một phú hộ ở Thagaste, Romanianus, để ý đến
năng khiếu văn chương của Augustinô và muốn giúp chàng thư sinh trẻ. Nhờ sự bảo
trợ này, Augustinô được gửi đến Carthage để tiếp tục học hành (371)– một ước mơ
trở thành hiện thực đối với ngài.
Carthage
là một thành phố ngoại giáo, người ta còn thờ nữ thần Tanit. Augustinô mô tả
Carthage như một “lò luyện của những tình yêu bất chính” (Conf. III)—hẳn
rất phóng đãng đối với một cậu bé tỉnh lẻ. Lúc ấy 17 tuổi, ngài bắt đầu chung sống
với một người phụ nữ (không rõ tên), người đã sinh cho ngài một con trai, được
đặt cái tên sùng tín “Adeodatus” (“được Thiên Chúa ban”). Augustinô khẳng định
ngài chung thủy với bà (Conf. IV). Chúng ta không biết cậu quan trọng thế
nào đối với cha mình khi còn nhỏ, nhưng đối thoại Người Thầy (De
Magistro) là minh chứng cho những cuộc trò chuyện triết học sâu sắc giữa
Augustinô và Adeodatus khi cậu ở tuổi thiếu niên.
Môn học
của Augustinô khi theo học ở Carthage là tu từ học. Ngài kể rằng mình đứng đầu
lớp (Conf. III), và ta có thể dễ dàng tin điều đó. Khó có thể hình dung
rằng bất kỳ bạn học nào của ngài khi ấy lại có tài năng hoặc sắc sảo ngang bằng.
Cũng tại Carthage, Augustinô đã khám phá ra Cicero, người trở thành vị thầy triết
học chủ yếu của ngài. Việc đọc tác phẩm Hortensius của Cicero (nay đã thất
truyền) đã thay đổi cuộc đời ngài, tạo nên niềm khao khát cho triết học. Cicero
vốn không phải là một triết gia sáng tạo, mà đúng hơn là một nhà trình bày sinh
động tư tưởng của người khác. Chính nhờ Cicero mà Augustinô biết đến triết lý
hoài nghi, cùng với những quan điểm của các triết gia Khắc kỷ và Khoái lạc.
Những
lôi cuốn đầu đời
Dù vẫn
bị cám dỗ bởi xác thịt, Augustinô vẫn say mê học tập. Ngài học thuật hùng biện,
toán học, âm nhạc và triết học. “Tâm trí bồn chồn của tôi hoàn toàn hướng đến
việc tìm kiếm tri thức” (Conf. III). Trong thời gian này, ngài khám
phá tác phẩm của triết gia Rôma Cicero, người ca ngợi đức khôn ngoan, khiến
ngài suy nghĩ về cách có thể đạt được điều đó. Nhưng khôn ngoan là gì? Làm sao
đạt được? Qua các thầy dạy, ngài tiếp cận nhiều ý tưởng mới. Ngài thật lòng
khao khát chân lý và sẵn sàng mở lòng trước bất kỳ điều gì.
Khi
Cicero đánh thức nơi Augustinô sự khao khát cho khôn ngoan, ngài bắt đầu thử đọc
Kinh Thánh Kitô giáo “để xem nó như thế nào”. Nhưng ngài nhận thấy Kinh
Thánh “không xứng đáng so với sự cao quý của Cicero. Kỳ vọng của ngài là
Kinh Thánh phải đẹp như văn chương của Cicero – hoa mỹ, hùng hồn, uyên bác –
nhưng lại không thấy điều đó. Bản dịch Kinh Thánh ngài có là thứ Latin bình
dân, thô sơ, đầy những câu chuyện mà ngài cho là phản cảm – như các tổ phụ thì
đa thê, có tì thiếp và ngoại tình. Những câu chuyện tưởng như xấu xa ấy lại được
nêu gương cho đức tin? Augustinô bị sốc và từ bỏ Kinh Thánh, đi tìm điều gì đó
“thanh cao” hơn. “Tôi coi các sách Kinh Thánh là thứ thấp kém hơn văn chương
trần gian” (Conf. III).
Vào thời
đó, bối cảnh tôn giáo trong Đế quốc Rôma rất phức tạp. Tuy Kitô giáo đã được hợp
pháp hóa hơn nửa thế kỷ và đang phát triển mạnh, nhưng không phải là tôn giáo
duy nhất. Các đền thờ cổ vẫn còn hoạt động, và nhiều tôn giáo mới từ phương
Đông du nhập, trong số đó có phái Manikê. Đây là một giáo phái nhị nguyên có gốc
ngộ giáo, và được sáng lập bởi Mani, người Ba Tư. Phái Manikê đề cao lý trí,
khoa học và triết học, nhưng được bao bọc dưới lớp vỏ Kitô giáo. Mani tự nhận
là Tông Đồ của Đức Kitô, rao giảng rằng Đức Kitô không hề sinh ra, không làm
người, và không chịu chết. Mani đưa ra các “chân lý” mới để thu hút những
người đang tìm kiếm. Augustinô ngưỡng mộ lối sống kỷ luật và đạo đức của các
tín đồ Manikê. Ngài cũng đang tìm kiếm sự khổ luyện và trật tự trong đời sống
mình. Ngài gia nhập phái lạc giáo này với tư cách một “thính đồ” (auditor).
Khoảng
25 tuổi, Augustinô đưa người tình và con trai, trở về Thagaste và mở lớp dạy
môn hùng biện. Trong lúc đó những tầng lớp tinh hoa Manikê (the Perfect,
the Elect) cũng tổ chức giảng dạy về “tri thức bí mật” quả thật rất lôi
cuốn. Họ hứa hẹn, “Chúng tôi sẽ trao cho bạn một bí mật, điều mà không ai
khác biết, và nó sẽ mở khóa mọi huyền nhiệm của vũ trụ” (Conf. III). Họ đáp
ứng những tham vọng của những người trẻ cùng lứa với Augustinô đang khao khát
tìm kiếm sự khôn ngoan. Monica kinh hãi khi biết con mình theo phái Manikê, và
dù lòng rất đau xót, bà nhất quyết không cho Augustinô đặt chân vào nhà.
Augustinô tìm đến vị ân nhân của mình là Romanianus và ở đó Augustinô được ưu
đãi mọi bề. Trong khi tiếp tục theo đuổi tham vọng của mình, tiếng tăm của ngài
càng ngày càng gia tăng nhờ các bài diễn thuyết. Được thành công khích lệ,
Augustinô tin chắc mình đang đi đúng đường — cho đến khi có một biến cố khiến
ngài khựng lại.
Augustinô
muốn mở rộng tri thức của mình về chân lý tối hậu. Ngài mang những câu hỏi về
nguồn gốc của sự dữ đến với các thầy Manikê, nhưng họ nói, “Hãy đợi Faustus
đến, ngài sẽ giải đáp hết thảy.” Faustus là một giám mục Manikê trứ danh
lúc bấy giờ. Augustinô đã chờ đợi suốt chín năm mới gặp được Faustus khi ông đến
Carthage. Nhưng cuộc gặp gỡ ấy lại trở thành một thất vọng lớn. Augustinô viết: “Khi tôi nêu lên vài vấn đề
làm tôi khắc khoải, tôi nhận ra ngay ông ta không biết gì nhiều ngoài ngữ pháp
và văn chương; kiến thức của ông chỉ mang tính sách vở. Ông đã đọc vài bài diễn
văn của Cicero, một ít sách của Seneca, một số bài thơ, và vài tác phẩm của
chính giáo phái mình được viết bằng một thứ Latinh văn hoa” (Conf. V).
Lúc đó
Augustinô 29 tuổi, mất dần hy vọng rằng giáo phái Manikê có thể giải quyết những
vấn đề trí thức của mình. Nhưng ngài đã vỡ mộng vì Faustus không hề uyên bác,
chỉ là một người giỏi nói, thiếu chiều sâu và bối rối trước những câu hỏi của
Augustinô. Ông ta đọc không nhiều và còn nhờ Augustinô chỉ dạy thêm cho mình.
Chán nản, Augustinô trở nên dè dặt hơn trước những gì họ trình bày (Conf. V).
Trong lúc đó, Monica tiếp tục cầu nguyện khẩn thiết và tìm sự hướng dẫn thiêng
liêng nơi nhiều giáo sĩ. Bà gặp một giám mục trong hàng ngũ Manikê khi còn trẻ,
nhưng vị này từ chối nói chuyện với Augustinô, Trước nước mắt và lời cầu nguyện
tha thiết của Monica, vị giám mục này đã tiên tri rằng, “Hãy cứ để cậu ấy
đi, và tiếp tục sống như cậu ấy đang sống; vì nếu cậu ấy là một người lạc xa sự
thật, cậu ấy sẽ tự khám phá ra điều đó và quay trở lại” (Conf. III).
Sau gần
ba năm dạy môn hùng biện ở Carthage, Augustinô chán ghét sự vô kỷ luật nơi học
trò. Ngài lập kế hoạch đi Rôma, bỏ lại quá khứ và mọi sự ràng buộc để được tự
do theo đuổi tham vọng và ước muốn của mình. Nhưng mẹ ngài cứ lẽo đẽo bám theo
ngài đến bất cứ nơi nào ngài tới. Cuối cùng, Augustinô đã làm một việc vô cùng
dối trá. Ngài đưa mẹ mình đến đền Thánh Cyprianô, vị tử đạo Phi Châu lừng danh ở
bến tàu, và dặn dò bà: “Mẹ chờ ở đây, con đi chào tạm biệt một người bạn, rồi
con sẽ quay lại đón mẹ, chúng ta cùng đi Rôma.” Nhưng thay vì quay lại,
Augustinô âm thầm lên tàu và thẳng tiến đến Rôma. Sáng hôm sau không thấy con
mình trở lại, Monica đã khóc hết nước mắt (Conf. V).
Kinh
thành sáng chói
Augustinô
đến Rôma năm 384. Kinh thành sáng chói này có ý nghĩa lớn đối với Augustinô.
Ngài tự hào về gia sản văn hóa của đế quốc, và Rôma không chỉ là một kinh thành
mà còn là biểu tượng của di sản ấy — thành phố của Virgil, Cicero; là nơi chứa
đựng bao điều ngài đã học, đã nghiền ngẫm, đã thừa hưởng từ tổ tiên. Hẳn ngài
vô cùng hân hoan khi có cơ hội đến Rôma, mở khóa dạy môn hùng biện và nhận học
trò ở thành phố lừng danh đó. Ở tuổi 30, Augustinô ngài vẫn còn đủ trẻ để xây mộng
lý tưởng của mình. Ngài nghĩ học trò bên kia bờ biển sẽ khác, nhưng ngài đã lầm,
học trò ở đâu cũng là học trò. Họ đến nghe giảng, khoe khoang rằng mình theo học
một thầy danh tiếng, nhưng tới ngày đóng học phí thì biến mất. Rốt cuộc,
Augustinô “lãnh đủ” hóa đơn, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Gần như cạn tiền, sức
khỏe yếu, Augustinô thấy mình lạc lõng nơi kinh thành diễm lệ (Conf. V).
Chính
vào lúc ấy, cơ hội vàng đến với Augustinô từ một vị bảo trợ mới. Symmachus, một
nghị viện quý tộc ở Rôma — với ao ước đưa đế quốc trở lại thời huy hoàng cổ xưa
bằng cách quay về tôn giáo truyền thống, thờ kính các thần của La Mã cổ.
Symmachus vận động phục hồi các tôn giáo cũ, tái thiết “Bàn thờ Nữ thần Chiến
thắng” cùng những nghi lễ tế tự tại đó. Ông tin điều ấy sẽ mang lại lợi ích cho
dân chúng. Ông cần đồng minh và đã chiêu mộ được Augustinô, một trí thức trẻ lỗi
lạc đầy hứa hẹn với tài hùng biện xuất chúng. Augustinô sẽ làm việc dưới trướng
của Symmachus.
Thế là
chỉ sau một năm, Augustinô lại dời lên Milan, làm việc dưới quyền viên tổng trấn
mới của thành phố. Khi ấy, Ambrôsiô là giám mục tại nhà thờ chính tòa của Milan
và Augustinô bắt đầu lắng nghe các bài giảng của ngài. Ambrôsiô từng có một sự
nghiệp chính trị thành công trước khi hoán cải Kitô giáo vào tuổi trung niên.
Ngài uyên thâm trong học vấn Hy Lạp cổ điển. Augustinô chưa từng biết ai như thế
ở Carthage, chứ đừng nói ở Thagaste. Ambrôsiô đón tiếp Augustinô như tâm tình
nhân hậu của một người cha. Khi ấy, Augustinô bị thu hút bởi tài hùng biện và vẻ
đẹp ngôn từ, chứ chưa về nội dung của những bài giảng thuyết của vị giám mục
này. Ngài viết: “Con bắt đầu yêu mến ngài… Con say mê nghe ngài giảng cho
dân chúng, không phải với tâm thế đúng đắn, mà như thể chỉ để kiểm nghiệm tài
hùng biện của ngài, xem có xứng với tiếng tăm hay không, và liệu sự trôi chảy ấy
hơn hay kém lời đồn. Con chăm chú vào giọng điệu của ngài, nhưng vẫn dửng dưng
và khinh bỉ nội dung. Niềm vui của con là ở vẻ đẹp của ngôn từ” (Conf.
V).
Khi ấy,
thủ phủ của đế quốc Rôma đặt tại Milan. Symmachus mời Augustinô giữ ghế giáo sư
hùng biện ở Milan — một vị thế vừa danh giá vừa có ảnh hưởng (Conf. V).
Giờ đây, Augustinô có cơ hội nắm bắt những gì ngài đã mơ ước. Là một diễn giả
hùng biện, Augustinô sở hữu những kỹ năng mà người Rôma coi trọng. Ngài sớm trở
thành “tiếng nói” của triều đình, cỗ máy tuyên truyền vốn tạo nên quan hệ công
chúng và truyền tải thông điệp. Công việc của Augustinô là sáng tác và tuyên bố
những bài đọc trước công chúng, ca ngợi các đức hạnh của hoàng đế và tán dương
chiến thắng quân sự. Đây là một vị trí then chốt tại Milan thời bấy giờ. Trong
chức vị mới, Augustinô thăng tiến cả thế lực lẫn tiền tài.
Khám
phá Ambrôsiô và Triết lý Tân-Platô
Tại
Milan, Augustinô có cơ hội ngưỡng mộ những bài giảng sâu sắc và đầy sức mạnh của
giám mục Ambrôsiô.[5] Câu chuyện
Ambrôsiô trở thành giám mục tại Milan thật ly kỳ. Trong khi có một cuộc xung đột
xảy ra giữa Giáo hội và phái Ariô, Ambrôsiô đến xem và giúp giải quyết. Dân
chúng thấy ngài là người có tài và thích hợp nhất để đại diện cho họ, mọi người
hô to: “Ambrôsiô--Giám mục!” Ambrôsiô bỏ trốn vào nhà một người bạn, nhưng sau
đó “bị nộp” cho công chúng do lệnh của triều đình. Chỉ trong vòng một tuần,
ngài lãnh nhận bí tích Thánh tẩy và được tấn phong giám mục — một chức vụ mà
ngài tin là do thánh ý Thiên Chúa.
Cuối
cùng thì Monica cũng đến Milan tái hợp với con người. Monica cũng bị lôi cuốn bởi
Ambrôsiô và thúc giục Augustinô đến gặp vị giám mục này. Augustinô chiều theo
và dùng địa vị của mình cùng với các thắc mắc của mẹ để tiếp cận vị giám mục
tài năng này. Thế là Augustinô trở thành “người đưa tin,” đem các câu hỏi tôn
giáo của bà đến Ambrôsiô. Augustinô có cơ hội tìm hiểu về lối suy nghĩ thấu đáo
cũng như nền tảng triết học của Ambrôsiô. Augustinô nhận ra nơi vị giám mục này
sự khôn ngoan, bình an và một tĩnh tại mà ngài đang khát khao.
Ambrôsiô
diễn giải Kinh Thánh theo lối ẩn dụ, rất khác với cách hiểu thô sơ của phái
Manikê mà ngài đã từng biết. Ambrose cho thấy đức tin
không hề mâu thuẫn với lý trí. Từ đó, các định
kiến mà Augustinô từng có khi chê Kinh Thánh “thô lậu” bị xóa tan (Conf. V).
Trước đây ngài coi Kinh Thánh chỉ là những huyền thoại Cận Đông cổ xưa và khó
mà nghiêm túc tiếp nhận. Khi đọc các đoạn như phép lạ bánh và cá, Augustinô chi
chỉ đơn thuần hiểu đó như là chuyện bánh và cá, thay vì nhìn ra ý nghĩa biểu tượng.
Tuy
say mê với tri thức mới, nhưng Augustinô vẫn chưa sẵn sàng ôm lấy đức tin của
giám mục Ambrôsiô (Conf. IX).
Tại
Milan, Augustinô bắt đầu đọc triết Hy Lạp
và tiếp xúc với tư tưởng Tân-Platô. Augustinô
tiếp cận các tác phẩm của Plotinus qua học trò lớn của ông là Porphyry và phát
triển các lập luận chống lại phái Manikê. Ngài viết, “Qua các sách của Platô,
tôi được nhắc nhở hãy trở về với chính mình” (Conf. VII). Kết quả
là một trải nghiệm về ánh sáng nội tâm đầu tiên của ngài: “Cùng với Ngài [lạy
Chúa] là Đấng hướng dẫn, con bước vào thành trì sâu thẳm nhất của lòng mình, và
con có thể làm được điều đó bởi Ngài đã trở thành Đấng trợ giúp con. Con đã bước
vào, và với ‘con mắt linh hồn’ của con, con đã nhìn thấy, trên chính con mắt
đó, một ánh sáng bất biến vượt trên tâm trí con—không phải ánh sáng thường nhật
mà ai cũng thấy, cũng không phải thứ ánh sáng lớn lao hơn cùng loại, vốn chiếu
tỏa sáng hơn và tràn ngập mọi sự bằng sự rộng lớn của nó. Không phải ánh sáng ấy,
mà là một điều gì đó hoàn toàn khác, khác hẳn với mọi thứ ánh sáng chúng ta biết”
(Conf. VII).
Phong trào Tân-Platô tại Milan đã đem lại hứng thú mới
cho Augustinô. Đây là những nhà trí thức đang hồi phục triết lý Platô cổ đại
cho một thời đại mới đầy phấn khởi. Nhiều Kitô hữu đương thời cũng nhận thấy học
thuyết này cởi mở với tôn giáo và kinh nghiệm thiêng liêng. Ý tưởng của
Plotinus về thế giới bất biến và siêu việt hơn thế giới vật chất, đã cho
Augustinô một phạm trù tư duy mới. Ngài bắt đầu suy tư về Thiên Chúa, không như
một thực thể vật chất, mà là nguồn của Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối. Ánh sáng chân
lý bắt đầu chiếu soi vào tâm trí ngài, không như những hình ảnh giả tạo và hời
hợt của Manikê, mà từ Thiên Chúa của Kinh Thánh.[6]
Augustinô học được cách hình dung về Thiên Chúa như một
Đấng vô hình nhưng hiện hữu khắp nơi (Conf. VII). Lúc đó ba vấn đề làm
cho ngài băng khoăn là: (1) Thiên Chúa vô hình hiện hữu ra sao? (2) Thiên Chúa
hiện diện khắp mọi nơi thế nào? và (3) Đâu là nguồn gốc của sự dữ (unde
malum)? Ngài bắt đầu kết nối
tính phi vật chất của linh hồn với sự hiện diện của Thiên Chúa nơi đời sống nội
tâm. Lý trí của ngài muốn tiến xa hơn nữa đến Thiên Chúa, nhưng tâm hồn ngài
còn bị giằng xé giữa những gì lý trí đã được thuyết phục và sự bám víu vào những
thói quen dục vọng của lối sống cũ.
Một biến cố chính trị phức tạp tại Milan đã
thu hút toàn bộ sự chú ý của Augustinô. Đế quốc khi ấy được cai trị bởi hoàng đế
trẻ tuổi Valentinianô II, nhưng thực quyền nằm trong tay mẹ ngài là hoàng hậu
Justina, vốn là người theo phái Ariô. Đây là nhóm lạc giáo phủ nhận sự đồng bản
thể và đồng vĩnh cửu của Đức Kitô với Chúa Cha. Hoàng hậu Justina ra lệnh cho
giám mục Ambrôsiô giao nhà thờ chánh tòa Milan cho các giáo sĩ phái Ariô. Khi bị
từ chối, bà Hoàng hậu dùng sức mạnh quân sự bao vây ngôi thánh đường. Ambrôsiô
huy động cộng đoàn Kitô hữu vào bên trong nhà thờ, hát thánh thi, đọc Thánh Vịnh,
nghe giảng và cầu nguyện không ngơi nghỉ. Có cả Monica trong số những người can
đảm ấy, khích lệ giáo dân giữ vững niềm tin.[7]
Đó là hành động táo bạo vì bất cứ lúc nào quân lính cũng có thể ập vào và không
để lại ai sống sót.
Trước mối
đe dọa đó, Ambrôsiô giữ vững tinh thần kiên định và chuẩn bị sẵn sàng chịu tử đạo.
Augustinô lúc ấy giằng xé nội tâm dữ dội vì ngài có những người bạn ở cả hai
phe và mẹ ngài đang ở trong nhà thờ. Mối nguy mất mẹ là điều thực sự ám ảnh
ngài (Conf. IX). Lòng can đảm và đức tin sắt đá của Ambrôsiô cùng với
giáo dân cuối cùng đã xoay chuyển tình thế và triều đình đành rút quân.
Ambrôsiô đã giành được cảm tình của cả binh lính và Giáo hội giữ được ngôi
thánh đường. Sự kiện này để lại ấn tượng sâu sắc nơi Augustinô. (Conf. IX).
Hoán cải
và chịu phép rửa
Ở đỉnh
cao sự nghiệp và trung tâm quyền lực tại Milan, Augustinô và các bạn sống trong
một biệt thự và cùng nhau truy cầu chân lý qua triết học (Conf. IX). Ngài đề xuất một chương trình giáo dục gồm các nghệ
thuật nhân văn nhằm dẫn người học đến sự minh triết thần linh. Cho dù
lý trí đã được thuyết phục nhưng cuộc đấu
tranh nội tâm của Augustinô thì vẫn chưa kết thúc. Ý chí của ngài bị ràng buộc
bởi những thói quen và ham muốn cũ. Hàng đêm ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin
ban cho con tiết độ và khiết tịnh – nhưng chưa phải bây giờ.” Trong lúc ấy,
Monica không tranh cãi, không ép buộc, chỉ khóc và âm thầm cầu nguyện.
Trong bối
cảnh đó, Augustinô mô tả mình là một kẻ “bệnh hoạn trong linh hồn”. Có
nhà cửa, bạn hữu, triết học – tất cả những điều ngài mơ ước – nhưng vẫn chưa
tìm được hạnh phúc. Cho đến một ngày nọ, có một viên chức triều đình đến thăm
ngài – Ponticianus một người đồng hương châu Phi đã cải đạo. Ponticianus thấy một
cuốn sách trên bàn và kể cho Augustinô nghe về hai người bạn – cũng là quan chức
– đã một lần lạc vào một tu viện, tình cờ đọc cuốn Cuộc Đời Thánh Antôn do
Athanasiô viết. Họ bị đánh động sâu sắc bởi gương sống từ bỏ tất cả để ẩn tu
nơi sa mạc cầu nguyện và phụng sự Thiên Chúa. Cuối cùng, cả hai người đều hủy
hôn và vào tu viện.
Nghe
xong, Augustinô bồi hồi và bật khóc. Ngài nói: “Với tất cả những gì chúng ta
có – học vấn, cơ hội – hai người kia ít học hơn chúng ta rất nhiều, thế mà họ lại
vào Nước Trời trước chúng ta” (Conf. VIII). Ngài muốn từ bỏ đam mê xác thịt, nhưng lại
trì hoãn mãi. Cuộc dằng co nội tâm lên đến đỉnh điểm trong một khu vườn ở
Milan, khi ngài nghe thấy tiếng hát của một đứa trẻ vọng vào: “Tolle, lege;
tolle, lege” – “Hãy cầm lên mà đọc.” Augustinô tin rằng đó là lời
Thiên Chúa gửi đến ngài. Ngài vội vàng mở Kinh Thánh và đọc lời thư thánh
Phaolô: “Đừng sống trong chè chén say sưa, dâm dục, ganh tỵ, nhưng hãy mặc lấy
Đức Kitô.” (Rm 13,13–14). Đọc xong câu ấy, trí tuệ, con tim và ý chí
của ngài đều đầu hàng Thiên Chúa. Ngài kể lại, “ánh sáng đức tin tuôn tràn
trong tâm hồn tôi, mọi bóng tối nghi ngờ đều tan biến” (Conf. VIII).
Đây là
bước ngoặt quyết định. Augustinô, kẻ từng miệt thị Kinh Thánh, giờ đây gục ngã
trước lời Thiên Chúa. Lý trí, cảm xúc và ý chí đều quy phục. Sau đó, ngài từ bỏ
sự nghiệp, cùng người tình và con trai Adeodatus và vài người bạn lui về sống ẩn
dật tại Cassiciacum để học hỏi và cầu nguyện. Tại đây, ngài tổ chức các cuộc đối
thoại triết học với bạn bè và viết tác phẩm triết học đầu tiên còn tồn tại, “Chống phái Hàn Lâm” (Contra Academos) cùng với
ba cuốn khác. Sự thất vọng vì không thấy điều mình mong đợi trong Kinh Thánh,
giờ đây được thỏa mãn với chiều sâu thiêng liêng của Cựu Ước. Càng ngày,
Augustinô càng tiến gần đến đức tin Kitô giáo.
Augustinô chuẩn bị lãnh Bí tích Rửa Tội.
Khi
ngài báo tin cho Monica, bà không “nhảy lên vì vui sướng” như ngài tưởng,
nhưng đã cho biết là bà đã được Thiên Chúa đảm bảo rằng trước khi chết, bà sẽ
thấy con mình sẽ trở nên một tín hữu trọn vẹn (Conf. IX). Ở thế kỷ IV, cải
đạo là một hành trình dài, đầy thử thách. Các Kitô hữu vẫn còn đối diện với
bách hại, và vì thế, những dự tòng (catechumen) cần phải có sự hiểu biết
rõ ràng về giáo lý và những đòi hỏi nơi việc đi theo con đường mới. Các dự tòng
sẽ được giáo lý viên hướng dẫn tìm hiểu nền tản căn bản của đức tin, sự sa ngã
và cứu độ, lịch sử thánh, cùng với những quy luật luân lý. Augustinô khiêm tốn,
cùng với Adeodatus khi ấy khoảng 15 tuổi, tham gia học hỏi chương trình dự tòng
này. (Conf. IX)
Sau thời
gian chuẩn bị, năm 387 Augustinô được Giám mục Ambrôsiô rửa tội — một biến cố mở
ra một chương mới trong lịch sử Hội Thánh. “Sau nhiều năm tìm kiếm, trí tuệ
và đức tin đã gặp nhau — và con người mới đã được sinh ra trong ngài” (Conf.
IX). Trong đêm vọng Phục Sinh – đỉnh cao của nghi thức rửa tội – Giám mục
công bố các bài đọc dài từ Cựu Ước, thuật lại toàn bộ lịch sử cứu độ: câu chuyện
Abraham và Isaac, cuộc Xuất Hành qua Biển Đỏ dưới sự dẫn dắt của Môsê, các lời
tiên tri loan báo về Đấng Cứu Thế, và cuối cùng là cuộc Khổ Nạn – Phục Sinh của
Đức Kitô. Những mầu nhiệm này là sự ứng nghiệm của toàn bộ Cựu Ước nơi Đức
Giêsu Kitô – Mầu nhiệm Vượt Qua.
Sau khi
giảng giải những mầu nhiệm ấy, Giám mục dẫn các dự tòng vào phòng rửa tội. Theo
truyền thống lúc bấy giờ, Augustinô cởi bỏ toàn bộ y phục như biểu tượng của
con người cũ, để chuẩn bị đón nhận sự sống mới. Vị Giám mục dìm ngài xuống nước
ba lần nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – công thức mà Giáo Hội
vẫn dùng cho đến nay. Sau đó, Augustinô được khoác lên một áo trắng – biểu tượng
cho cho việc tẩy xóa tất cả tội lỗi của lối sống cũ và khởi đầu đời sống mới.
Augustinô, con trai Adeodatus và người bạn thân Alypiu cùng chịu phép rửa và niềm
vui sâu sắc ấy. Monica, người đã suốt đời kiên trì cầu nguyện cho sự hoán cải của
con mình, nay được chứng kiến khoảnh khắc đó với nước mắt hân hoan (Conf. IX).
Tình
yêu và nước mắt
Cuộc đời của Augustinô gồm đầy dẫy những mối tình sâu
đậm cũng như sự mất mát. Điển hình nhất là biến cố về cái chết của người bạn
thân vô danh, người mà Augustinô đã đưa vào đạo Manikê. Khi anh ta lâm trọng bệnh,
gia đình mời linh mục đến rửa tội và điều đó đủ để biến đổi nội tâm anh.
Augustinô định sau đó sẽ hỏi bạn vì sao lại bỏ đạo Manikê. Nhưng cơ hội đã
không còn, hai tuần sau, người bạn thân đã qua đời. Bàng hoàng với cái chết của
người bạn chí thiết, Augustinô rất đau đớn và đã sau này đã mô tả về trải nghiệm
này trong sách Tự Thú: “Mắt tôi tìm kiếm anh ở khắp nơi, nhưng anh đã không
còn đó. Tôi ghét tất cả mọi sự, vì chúng không có anh; cũng không ai có thể bảo
tôi ‘kìa, anh ấy đang trên đường tới,’ như khi anh còn sống mà vắng mặt. Tôi đã
trở thành một vấn nạn khổng lồ cho chính mình” (Conf. IV). Augustinô
cho rằng Thiên Chúa nhân lành đã “giật lấy” người bạn ấy khỏi ngài để
anh không bị kéo vào lạc lối của phái Manikê. Cái chết ấy làm cho Augustinô suy
nghĩ về tình bạn là mối liên kết sâu xa giữa các linh hồn, và khi mối dây ấy bị
cắt đứt, nỗi buồn trở thành vết thương rỉ máu trong tâm hồn. Vì thế, muốn tránh
đau khổ, con người nên học cách yêu điều bất biến.
Từ lúc còn ở Carthage, Augustinô gắn bó thủy chung với
một người phụ nữ không danh phận suốt mười hai năm. Nhưng để chuẩn bị chịu phép
rửa, Augustinô cần một cuộc hôn nhân chính thức. Người tình thuộc tầng lớp thấp
hơn và không thể kết hôn theo luật thời đó, phải trở về Bắc Phi. Augustinô rất
đau đớn, nhưng ngài hiểu rằng đó là điều cần thiết. Cô ta là một phụ nữ có phẩm
giá và sự cao quý khiến ngài kính phục. Trước khi rời đi, cô nói rằng sẽ luôn
yêu ngài và không bao giờ yêu người đàn ông nào khác. Cô trở thành hình mẫu đạo
hạnh cho Augustinô, và trái tim tan vỡ ấy đã chữa lành trái tim ngài mãi mãi.
Ngài diễn tả nỗi đau ấy bằng những ngôn từ tương tự như khi mất người bạn thân
năm xưa. Người phụ nữ này giúp ngài vượt lên trên dục vọng thuần túy. Augustinô
thổn thức: “Khi tôi mất người ấy, linh hồn tôi tan nát vì tôi đã đánh mất một
linh hồn là một phần của chính tôi” (Conf. IV). Mọi điều thiện hảo
trên đời này đều có thể mất. Cũng thế, tội lỗi là sự đánh mất của sự thiện đang
hiện diện.
Kế tiếp, cái chết của Adeodatus, con trai của
Augustinô là người cùng ngài lãnh nhận phép Rửa Tộ, làm cho ngài đau lòng không
ít. Cậu bé được miêu tả là rất thông minh và sâu sắc (De Magistro). Mối
liên kết thiêng liêng này giữa cha và con cũng là biểu tượng cho sự tái sinh
tâm linh của chính Augustinô. Nhưng lần này Augustine đã có đức tin để nương tựa
qua sự mất mát của đứa con trai thân yêu.
Quan trọng nhất là Monica – là một người mẹ Công giáo
mẫu mực, luôn kiên trì cầu nguyện cho con (Conf. III). Monica không ngừng
tìm mọi cách đưa con trở về Hội Thánh. Bà đã khóc rất nhiều về đứa con lạc giáo
và than thở với một linh mục người đã nói với bà: “Không thể nào con của những
giọt nước mắt ấy lại bị hư mất” (Conf. III). Bà là một người mẹ can
đảm, dùng lời lẽ đến từ chính Thiên Chúa để cảnh tỉnh Augustinô khỏi dục vọng
và tội lỗi. Trong một giấc mộng, bà thấy mình và con cùng đứng trên cùng một thước
đo đức tin, và một thiên sứ bảo: “Nơi nào bà ở, con trai bà sẽ ở đó” (Conf.
III). Khi Augustinô cố diễn giải sai giấc mộng theo hướng Manikê, nhưng Monica
bác bỏ ngay lập tức.
Monica đã khóc rất nhiều khi Augustinô nói dối với bả
để bỏ trốn sang Rôma. Augustinô mô tả Monica đang đứng bên biển, nước mắt giàn
giụa, cầu nguyện cho ngài (Conf. V). Dù đau khổ, bà không bỏ cuộc. Khi
ôn lại những hoài bảo của mẹ mình, Augustinô cho rằng lúc ấy, Monica “đang ở
vùng ngoại ô Babylon” (Conf. II). Bà trì hoãn việc rửa tội cho con cho đến
khi nó vượt qua thời kỳ buông thả. Bà khao khát sự thành công của đứa con thông
minh nên ngăn cản nó cưới vợ quá sớm – vô tình tước mất liều thuốc tốt nhất chống
lại dục vọng tuổi trẻ. Khi Augustinô ngoài 30 tuổi và đã leo cao trên nấc thang
thành công, Monica sắp đặt một cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” với một tiểu thư
Kitô hữu còn dưới tuổi. Nhưng cuộc hôn nhân không thành này là trái ngược với
ơn gọi tu trì của Augustinô (Conf. VI). Nước mắt của Monica là hỗn hợp,
vừa vì linh hồn con, vừa vì bà muốn giữ con bên mình. Nước mắt ấy vừa là dấu chỉ
tình yêu Thiên Chúa tiền định Augustinô được cứu rỗi, vừa là dấu cho thấy tình
yêu của Monica cần được thanh luyện.
Hành trình trở về nhà
Cùng với
Evodius[8], Augustinô
quyết định trở về Bắc Phi để lập một tu đoàn. Trong lúc chờ đợi tàu ở Ostia,
gia đình Augustinô tạm nghĩ tại một ngôi nhà với sân vườn. Augustinô kể lại một
cuộc trò chuyện thiêng liêng giữa ngài và mẹ khi hai người tựa cửa sổ nhìn ra
khu vườn thanh bình. Mười hai năm sau (397), Augustinô ghi lại biến có khó quên
này: “Cuộc trò chuyện dẫn chúng tôi đến kết luận rằng mọi thú vui của giác
quan thể xác, dù có hấp dẫn đến đâu trong ánh sáng huy hoàng của thế giới vật
chất, so với đời sống vĩnh cửu thì chẳng đáng gì. Tâm trí chúng tôi bừng cháy
khát vọng hướng về Hữu thể vĩnh cửu. Từng bước, chúng tôi vượt qua mọi đối tượng
thể chất và cả bầu trời nơi mặt trời, mặt trăng và tinh tú chiếu sáng trái đất.
Chúng tôi còn đi xa hơn nữa nhờ nội tâm suy tư và kinh ngạc trước các công
trình của Ngài, rồi bước vào chính linh hồn mình. Chúng tôi vượt lên khỏi nó để
đạt đến miền phong phú vô tận, nơi Ngài nuôi dưỡng Israel đời đời bằng chân lý.
Ở đó, sự sống chính là sự khôn ngoan, nhờ đó mọi loài hiện hữu, đã có và sẽ có”
(Conf. IX).
Chỉ vài
ngày sau cuộc đàm thoại thiêng liêng ấy, Monica đột nhiên ngã bệnh và rơi vào
hôn mê. Khi tỉnh lại, Monica trăn trối: “Con ơi, với riêng mẹ, giờ đây mẹ
không còn thấy thú vui gì trong đời sống này nữa. Còn gì để mẹ làm, và tại sao
mẹ còn ở lại, mẹ không biết. Hy vọng của mẹ trong cõi đời này đã được hoàn tất.
Lý do duy nhất khiến mẹ muốn sống lâu hơn chỉ là để thấy con trở thành một Kitô
hữu Công giáo trước khi nhắm mắt. Thiên Chúa của mẹ đã ban điều ấy, còn vượt xa
điều mẹ dám hy vọng” (Conf. IX). Sau chín ngày bệnh, Monica qua đời, hưởng
thọ 56 tuổi. Augustinô vuốt mắt của mẹ mình và hát lên một trong những bài
thánh ca mà bà yêu thích do Ambrôsiô sáng tác. Điều đó khơi lại tình cảm sâu đậm
với người mẹ thân yêu, và cho Augustinô sự bình an nội tâm giữa nỗi buồn.
Về cuộc hành trình trở về quê nhà, Augustinô đã từng
viết: “Cuộc sống là hành trình về nhà, nơi có Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu và
bất biến” (Conf. III). Tham vọng đã đưa ngài ra khỏi Phi châu,
nhưng ơn gọi đích thực lại dẫn ngài trở về. Không lâu sau đó, Augustinô thành lập
một tu đoàn, nơi ngài hy vọng có thể sống đời chiêm niệm và đào sâu Lời Chúa.
Đây là sự viên mãn của tất cả những gì ngài từng khao khát. Nhưng Thiên Chúa có
kế hoạch khác.
Một ngày nọ, khi đang tham dự phụng vụ tại Hippo, một
thành phố cảng lớn ở Bắc Phi, các tín hữu trong cộng đoàn nghe giám mục Valerius giảng Giáo hội đang thiếu linh mục, họ đã khẩn
khoản thuyết phục ngài chấp nhận phụ giúp vị giám mục. Thế là Augustinô được
truyền chức và năm năm sau trở thành Giám mục của Hippo. Ngài lập một cộng đoàn
đan tu ở Hippo, cùng lúc gánh vác những trách nhiệm mục vụ và hành chính. Hàng ngày, Augustinô phải giảng dạy, biện hộ đức tin
và hướng dẫn cộng đoàn trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Ngài trở thành một
mục tử vừa bảo vệ đức tin, vừa chăm lo phần rỗi các linh hồn.
Augustinô để lại khoảng 100 sách và
chuyên luận, 250 bức thư, và khoảng 500 bài giảng, bao gồm cả những bài chú giải
Thánh vịnh. Sự nghiệp trước tác của Augustinô có thể được xếp theo
ba giai đoạn. Giai đoạn đầu (386–395) tại Cassiciacum ngài viết các đối thoại
triết học Kitô giáo; chống Manikê và khi về đến Bắc Phi khởi đầu đời sống đan
tu; chịu chức linh mục và dạy Kinh Thánh cho dân chúng bình dân. Ở giai đoạn giữa,
Augustinô tập trung vào bản chất Hội Thánh, tính duy nhất và hợp lệ của bí tích
Rửa tội vốn được bảo toàn bởi đức ái, chứ không bởi sự tinh khiết như Đônatô chủ
trương. Giai đoạn cuối, ngài chú tâm vào giáo lý ân sủng, chống phái Pêlagiô, vốn
lạc quan về khả năng con người đạt sự hoàn hảo không cần ân sủng.
Augustinô mất ngày 28 tháng 8, 430, sau ba tháng thành
Hippo bị quân Vandals chiếm đóng. Ngài để lại ba tác phẩm quan trọng còn đang
viết lỡ dỡ, trong đó có phản hồi thứ nhì cho Juliano, một nhà lãnh đạo đầu não
của nhóm dị giáo Pelagiô. Một lá thư ngài đã đọc từ giường bệnh cho thư ký viết
xuống về các bổn phận của linh mục khi đối đầu với sự xâm chiếm của quân ngoại
ban. Ngài được chôn cất tại nhà thờ chính tòa của giáo phận, và vào khoảng năm
725, phần mộ của ngài đã được di dời về Pavia, và an nghĩ tại Vương Cung Thánh
Đường Thánh Phêrô tại Ciel d’Oro.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tự thú (Confessiones).
Dịch bởi James O’Donnell. Oxford: Oxford University Press, 1992.
Sách Giáo lý vắn tắt (Enchiridion). Dịch bởi J. F. Shaw. Buffalo, NY: Christian
Literature Publishing, 1887.
Về sự tự do lựa chọn ý chí (De libero arbitrio voluntatis). Chỉnh lý bởi B.
Roland-Gosselin. Paris: Desclée de Brouwer, 1948.
Về Ba Ngôi (De Trinitate). Dịch bởi Edmund Hill. New York: New City Press,
1991.
Về tôn giáo chân thật (On True Religion). Trong Earlier Writings, dịch bởi John
H. S. Burleigh. Louisville, KY: Westminster John Knox Press, 1979.
Thành đô Thiên Chúa (De civitate Dei). Dịch bởi Henry Bettenson. London: Penguin
Classics, 2003.
[1] Peter
Brown, Augustine of Hippo: A Biography (Berkeley: University of
California Press, 2000), 104.
[2] Frederick
Van Fleteren, “Augustine and Platonism,” Augustinian Studies 25 (1994):
1–35.
[3] Ibid,
113.
[4] Evodius
là một người đồng hương Thagaste, sau này làm Giám mục và là đối thoại viên của
Augustinô trong tác phẩm Tự do chọn lựa của ý chí.
[5] Peter
Brown, Augustine of Hippo: A Biography (Berkeley: University of
California Press, 2000), 104.
[6] Frederick
Van Fleteren, “Augustine and Platonism,” Augustinian Studies 25 (1994):
1–35.
[7] Ibid,
113.
[8] Evodius là một người đồng hương Thagaste, sau này làm Giám mục và là đối thoại viên của Augustinô trong tác phẩm Tự do chọn lựa của ý chí.


