
D.D.
Emmons
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
từ https://thepriest.com
Đối với tôi,
phân biệt giữa Thánh Lễ Chúa nhật, Thánh Lễ chiều thứ Bảy và Thánh Lễ vọng thật
là thách đố. Trước hết, dù cho hàng ngàn người Công giáo có thể nghĩ, và các bản
tin giáo xứ thông báo, Thánh Lễ vọng không phải là Thánh Lễ được cử hành vào
chiều thứ Bảy là Thánh Lễ mà đúng ra phải được gọi là Thánh Lễ chiều hôm trước
(anticipated Mass).
Ở nhiều giáo
xứ, thuật ngữ Thánh Lễ chiều hôm trước và Thánh Lễ vọng được sử dụng thay thế
cho nhau, như nhau, nhưng trên thực tế chúng khác nhau. Thánh Lễ vọng (vigil
Mass) là Thánh Lễ được cử hành trước một số lễ trọng nhất định: Lễ Phục sinh,
Giáng sinh, Hiện xuống, Thăng thiên, Đức Mẹ Lên Trời, Thánh Phêrô và Phaolô, Hiển
linh và Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy giả. Các Thánh Lễ vọng này, bắt đầu sau 4 giờ
chiều, có các bài đọc và lời nguyện dành riêng, khác với các bài đọc và lời
nguyện được sử dụng trong lễ trọng chính ngày. Các lễ trọng khác, chẳng hạn như
lễ Các Thánh, có thể có Thánh Lễ chiều hôm trước, nhưng các bài đọc giống như
các bài đọc được sử dụng trong chính lễ trọng đó; vì thế, Thánh Lễ như vậy là Thánh
Lễ chiều hôm trước. Một số lễ trọng là lễ buộc và điều thú vị là mọi lễ buộc đều
là lễ trọng nhưng không phải mọi lễ trọng đều là lễ buộc. Các giáo xứ khắp nơi
đều cử hành thêm nhiều Thánh Lễ để cử hành ngày lễ buộc, gồm cả lễ chiều hôm
trước.
Thông thường,
Thánh Lễ chiều thứ Bảy là Thánh Lễ chiều hôm trước và là một phần của Chúa nhật
sử dụng các nghi lễ của phụng vụ Chúa nhật, trong khi Thánh Lễ vọng vào chiều
hôm trước lễ trọng có lời nguyện và bài đọc riêng.
Lễ
vọng
“Trong lịch
phụng vụ, chúng ta bắt gặp một số ngày được gọi là lễ vọng. Những ngày này diễn
ra vào chiều hôm trước ngày lễ lớn của Giáo Hội. Vọng có nghĩa là canh thức.
Vào thời kỳ đầu của Giáo Hội, các Kitô hữu thường tập trung tại các nhà thờ vào
những ngày (vọng) đó và dành trọn ngày để ăn chay, cầu nguyện và hát thánh vịnh
để chuẩn bị phù hợp cho các ngày lễ trọng. Vào khoảng ba giờ chiều, họ về nhà để
chia sẻ bữa ăn duy nhất trong ngày, trong đó không có thịt và các món ngon. Họ
sẽ trở lại nhà thờ vào lúc hoàng hôn để canh thức suốt đêm, cầu nguyện, hát
thánh ca và các thực hành thích hợp khác, để chuẩn bị cử hành lễ trọng” (trích
từ “A Pulpit Commentary on Catholic Teaching,” Tập IV, Pulpit Preachers of Our
Own Day, Joseph F Wagner, New York, khoảng năm 1910).
Tất nhiên, có
nhiều loại lễ vọng (canh thức) khác nhau – tôn giáo và không tôn giáo – được cử hành
không chỉ vào chiều tối mà còn vào những thời điểm khác trong ngày. Trong số những
canh thức nổi danh nhất xảy ra sau khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Chúng ta nhớ
lại những người Pharisiêu, lo sợ Đức Kitô sẽ sống lại sau ba ngày, đã xin
Philatô cử lính gác và canh thức trong ba ngày nơi mộ của Ngài (x. Mt 27,62-64).
Một lễ canh thức quen thuộc khác được mô tả trong Lc 2,8-9, trong đó những người
chăn chiên canh thức suốt đêm (một lễ vọng) khi các thiên thần xuất hiện để báo
tin Đức Kitô ra đời.
Các Kitô hữu
sơ thời thường canh thức cả ngày và đêm trước một số lễ trọng nào đó. Họ cầu
nguyện, ăn chay, đọc hoặc hát thánh vịnh. Điều này đã trở thành một phần của
truyền thống Giáo Hội dẫn đến các lễ vọng trước những ngày lễ trọng mà chúng ta
vẫn cử hành ngày nay. Cho đến năm 1966, ăn chay là một phần của ngày lễ vọng
trước những ngày lễ như Lễ Hiện xuống, Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, Giáng sinh
và Lễ Các Thánh. Trong triều đại Giáo hoàng Phaolô VI (1963-1978), những ngày
ăn chay đã thay đổi ra như hiện nay.
Như đã lưu ý,
các buổi canh thức không chỉ giới hạn vào ban đêm. Ví dụ, trong một thời gian
dài, Lễ canh thức Phục Sinh được tổ chức vào ban ngày; trước hết là vào chiều
thứ Bảy và sau đó là sáng thứ Bảy. Mãi đến thế kỷ XX, lễ này mới được chuyển
vào lúc trời tối như chúng ta biết ngày nay.
Chúa
nhật
“Thiên Chúa
ban phúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hoá ngày đó, vì ngày đó Người đã nghỉ,
ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Người” (St 2,3). Để hiểu về lễ vọng và các
Thánh Lễ chiều hôm trước, cần phải xét đến bổn phận phải tham dự Thánh Lễ Chúa
nhật và các ngày lễ buộc của người Công giáo – và một cuộc
tranh luận lớn hơn xoay quanh lý do tại sao Chúa nhật lại quan trọng.
Ngay từ thế kỷ
II, các Kitô hữu đã kỷ niệm Chúa nhật như Ngày của Chúa thay vì ngày Sabát vào
thứ Bảy. Họ coi Chúa nhật là ngày đầu tiên của tuần, thay vì là ngày cuối tuần.
Do đó, các Kitô hữu đã kỷ niệm ngày phục sinh của Đức Kitô –
tức Chúa nhật.
Thánh
Ignatiô, sống vào thế kỷ II, đã viết rằng các Kitô hữu “từ bỏ việc giữ ngày
Sabát và bắt đầu sống cử hành Chúa nhật”. Cùng thế kỷ đó, Thánh Justinô Tử đạo
đã nói về các Kitô hữu tụ họp: “Vào ngày được gọi là Chúa nhật, tất cả những
người sống tại thành phố hoặc nông thôn tụ họp tại một nơi, và người ta đọc ghi
chép của các tông đồ hoặc các tác phẩm ngôn sứ” (“First Apology”, số 67). Thậm
chí trước đó, các tông đồ đã giữ Chúa nhật là ngày thánh của họ. Thánh Luca mô
tả trong Công vụ Tông đồ 20,7 về cách họ bẻ bánh vào ngày đầu tuần. Sách Giáo
lý Baltimore nói: “Chúa chúng ta đã ban cho các tông đồ quyền năng thay đổi
Ngày của Chúa từ Thứ Bảy sang Chúa nhật. Các tông đồ đã làm như vậy vì vào Chúa
nhật, Chúa chúng ta đã sống lại từ cõi chết. Và chính vào Chúa nhật, Chúa Thánh
Thần đã ngự xuống trên các tông đồ”.
Đức Giáo
hoàng Bênêđictô XVI (trị vì 2005-2013) đã viết về Chúa nhật như là “ngày thánh
nguyên thủy, khi tất cả các tín hữu, bất kể ở đâu, đều có thể trở thành người
loan báo và bảo vệ ý nghĩa thực sự của thời gian. Vào Ngày của Chúa, thật thích hợp khi các nhóm trong Giáo hội tổ
chức các hoạt động của cộng đồng Kitô giáo quanh Thánh Lễ Chúa nhật; các cuộc tụ
họp xã hội, các chương trình đào tạo đức tin cho trẻ em, thanh thiếu niên và
người lớn, các cuộc hành hương, các công việc từ thiện và những khoảnh khắc cầu
nguyện khác nhau. Vì lợi ích của những giá trị quan trọng này – trong khi thừa nhận rằng tối thứ Bảy
bắt đầu bằng giờ kinh chiều I đã là một phần của Chúa nhật và là thời điểm mà bổn
phận chu toàn Chúa nhật có thể được thực hiện – chúng ta cần
nhớ rằng chính Chúa nhật đáng được thánh hoá, để ngày này không kết thúc như một
ngày “vắng bóng Thiên Chúa” (“Heart of Christian Life”, Ignatius Press).
Thánh
Lễ chiều
Trong nhiều
thế kỷ, không có Thánh Lễ Chúa nhật nào được cử hành sớm hơn một giờ trước khi
mặt trời mọc hoặc sau buổi trưa, được quy định trong bộ Giáo Luật năm 1917. Thánh
Lễ chiều thứ Bảy không nằm trong dự định của bất kỳ bộ luật nào. Nhưng những
nhu cầu của Thế chiến II, đặc biệt là đối với những người ở vùng chiến sự và những
công nhân làm việc trong ngành nghề hỗ trợ chiến tranh đã khiến Vatican cho
phép cử hành Thánh Lễ vào chiều Chúa nhật. Do đó, Thánh Lễ chiều đầu tiên được
cử hành vào Chúa nhật chứ không phải chiều thứ Bảy. Sau chiến tranh, Thánh Lễ
chiều thứ Bảy dần phát triển và ngày càng trở nên phổ biến khi các giám mục địa
phương kiến nghị Tòa thánh chấp thuận những buổi lễ (chiều) như vậy; những
thay đổi về văn hóa, luật xanh (Blue Laws - luật cấm buôn bán Chúa nhật) từ lâu
đã cấm thương mại vào Chúa nhật đã được bãi bỏ và các doanh nghiệp mở cửa vào Chúa
nhật dẫn đến nhiều người làm việc vào ngày này hơn. Tất cả những yếu tố này đã
góp phần khiến Vatican cho phép tổ chức Thánh Lễ chiều thứ Bảy để chu toàn bổn
phận Thánh Lễ Chúa nhật; ban đầu, sự cho phép này được coi là có lợi cho những
người làm những công việc thiết yếu như nghề y, lính cứu hỏa, thi hành luật
pháp, thậm chí là ngành dịch vụ khách sạn. Việc Thánh Lễ chiều thứ Bảy trở nên
phổ biến và có sự tham dự của những người có thể dự Thánh Lễ Chúa nhật nhưng
đơn giản là họ chọn không tham dự (vào Chúa nhật). Năm 1983, bộ Giáo Luật đã được
sửa đổi như sau: “Người nào tham dự Thánh Lễ được cử hành theo nghi thức Công
Giáo trong chính ngày lễ hoặc chiều ngày áp lễ ở bất cứ nơi nào, thì đã giữ trọn
luật buộc phải tham dự Thánh Lễ” (Điều 1248 §1).
Vì thế, Chúa
nhật, hay ngày lễ buộc, bắt đầu khi nào? Những Quy Luật Tổng Quát về Năm Phụng
Vụ và Niên Lịch giải thích, “Ngày phụng vụ kéo dài từ nửa đêm cho đến nửa đêm.
Nhưng việc cử hành Chúa nhật và các ngày lễ trọng bắt đầu từ chiều ngày hôm trước”
(Số 3). Những quy luật tiếp tục, “Lễ trọng là những ngày đặc biệt, được cử hành
từ Kinh Chiều I ngày hôm trước. Có vài lễ trọng có lễ vọng riêng cử hành chiều
ngày hôm trước, nếu cử hành Thánh Lễ ban chiều” (Số 11). Do đó, Thánh Lễ được cử
hành vào chiều thứ Bảy được coi là một phần của cử hành Chúa nhật - nghĩa là Thánh
Lễ Chúa nhật.
Mặc dù Giáo hội
chưa bao giờ định nghĩa “buổi chiều” là như thế nào, nhưng trong tông hiến
Christus Dominus năm 1953 của Đức Giáo hoàng Piô XII (trị vì 1939-1958) ban hành,
đã nói về cơ sở lý luận cho các Thánh Lễ được cử hành sau buổi trưa và thời điểm
Thánh Lễ buổi chiều có thể bắt đầu: “Nếu hoàn cảnh đòi hỏi cần thiết, chúng tôi
trao cho các đấng bản quyền địa phương quyền cho phép cử hành Thánh Lễ vào buổi
chiều… nhưng với sự khôn ngoan thì Thánh Lễ không bắt đầu trước bốn giờ chiều”
(Quy tắc VI). Văn kiện này được viết 34 năm trước bộ giáo luật hiện hành và trước
khi Thánh Lễ chiều thứ Bảy trở nên phổ biến, tuy nhiên ngày nay tài liệu này
thường được coi là nguồn xác định thời điểm sớm nhất để có thể bắt đầu Thánh Lễ.
Việc tham dự Thánh
Lễ chiều thứ Bảy phù hợp với giáo luật và nguyên tắc của Giáo hội là buộc tham
dự Thánh Lễ Chúa nhật. Tuy nhiên, vẫn còn trách nhiệm của mọi Kitô hữu là giữ
cho Chúa nhật được thánh thiêng, một trách nhiệm không bao giờ bị bãi bỏ. Hàng
giáo sĩ tận dụng cơ hội thường xuyên nhắc nhở các tín hữu về tầm quan trọng của
Chúa nhật. Đó là ngày dành riêng cho Chúa - không như bao ngày khác. “Vì thế, Chúa
nhật là ngày lễ rất đặc biệt phải được đề cao và in sâu vào lòng đạo đức của
các tín hữu đến độ cũng trở thành ngày dành cho niềm vui và sự nghỉ ngơi”
(Sacrosanctum Concilium, số 106).
Nguồn: https://gpquinhon.net/giai-dap-phung-vu/chua-nhat-thu-bay-va-le-vong-6503.html

