
Phan Tấn
Thành
Nguồn: https://hocviendaminh.com/thu-muc/lich-su/hoi-thanh-bi-tich-cuu-do
I.
Ý nghĩa thuật ngữ “cứu độ” trong truyền thống Kitô giáo
A. Cựu ước
B. Tân ước
C. Lịch sử thần
học
II.
Giáo hội bí tích cứu độ
A. Giáo hội
phục vụ ơn cứu độ
B.
Extra ecclesiam nulla salus
1/ Thời các
giáo phụ
2/ Thời Trung
cổ
3/ Thời cận đại
4/ Huấn quyền
của Tòa Thánh trước Vaticanô II
5/ Công đồng Vaticanô II
“Cứu độ” là một
thuật ngữ được nghe rất nhiều, nhưng có lẽ khó giải thích, bởi vì nó có thể hiểu
theo nhiểu nghĩa, và thậm chí còn gặp thấy nơi các tôn giáo khác.
Thật vậy, một
đàng chúng ta thấy bên cạnh “cứu độ” (tiếng Latinh salus, tiếng
Pháp salut, tiếng Anh salvation) còn có các từ “cứu
thoát, cứu chữa, cứu rỗi, cứu thế”[1]. Đàng khác, ở Việt Nam, do ảnh hưởng của
Phật giáo, những tiếng “cứu độ, cứu nhân độ thế” đã trở thành quá quen thuộc[2]. Hơn thế nữa, nếu phân tích ngôn ngữ thường
ngày, chúng ta sẽ thấy tiếng “cứu” được dùng trong một bối cảnh rộng hơn lãnh vực
tôn giáo nhiều. Thí dụ: cứu cấp, cứu thương, cứu hỏa, cứu vớt, cứu tế, cứu
giúp, cứu viện, cứu nước, giải cứu. Đại khái, thì tiếng “cứu” được dùng khi mà
con người gặp phải một hoàn cảnh rất là khổ cực, bi đát (tựa như tai biến, hoạn
nạn), và cần phải thoát khỏi cảnh đó. Để phân biệt tính cách “tôn giáo”, tiếng
Việt thêm tiếng “cứu rỗi”, “cứu độ” ra như để nêu bật một hình thức “cứu” riêng
biệt, mang tính cách thiêng liêng, khác với các thứ cứu khác.
Khi bàn về
quan niệm “cứu độ” của Kitô giáo, chúng ta gặp nhiều khó khăn, liên quan đến từ
ngữ và nội dung. Về từ ngữ, phải chăng chỉ giới hạn vào việc khảo sát từ “salus,
salvare”, hay phải mở rộng đến những từ tương đương? Về nội dung, phải hiểu
cứu độ như thế nào: chỉ giới hạn vào việc “cứu rỗi các linh hồn” (salus
animarum) chứ không cần biết đến thân xác? Phải chăng sự cứu độ chỉ giới hạn
vào việc chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa trên thiên đàng, chứ không liên quan đến
cuộc sống hiện tại trên dương gian? Phải chăng nó chỉ liên quan đến sự hoàn thiện
cá nhân (giải thoát con người khỏi đam mê dục vọng), chứ không ảnh hưởng gì đến
việc cải tổ các cơ cấu bất công của xã hội? Chúng ta có thể nhận thấy một nguồn
gốc của các vấn nạn nằm ở chữ “cứu”: cứu mang tính cách tiêu cực, nghĩa là
thoát ra một tình trạng cơ cực khó khăn (gọi tắt là “khổ”); nhưng chưa nói lên
khía cạnh tích cực: đâu là lý tưởng mà con người ước mơ (gọi tắt là “sướng”)? Đề
tài này được giải thích trong lớp Kitô học (gồm Christologia và Soteriologia); ở
đây chúng ta chỉ ôn lại vài nét chính.
I.
Ý nghĩa thuật ngữ “cứu độ” trong truyền thống Kitô giáo
Có một sự tiến
triển về cách hiểu ơn cứu độ trong Kinh thánh và truyền thống Kitô giáo.
A.
Cựu ước
Trong Cựu
ước chữ “cứu” (salvare) cũng được dùng tương tự như là trong ngôn
ngữ bình dân Việt Nam, theo nghĩa tới giúp cho một người nào đó đang gặp nguy
khốn[3]. Trong Cựu ước, chúng ta thấy những cảnh
nguy khốn ấy mang đủ hình dạng khác nhau. Ai đã quen đọc thánh vịnh đều nhận thấy
điều đó. Nhiều lần, vịnh gia đang gặp cơn bệnh hoạn, và xin Chúa cứu; như vậy
hiểu là cứu cho khỏi bệnh, và nhất là cứu cho khỏi chết. Đôi khi vịnh gia bị vu
oan, lăng mạ, và xin Chúa đến cứu: nghĩa là xin gỡ cho khỏi cảnh oan ức bất
công. Có khi là một cơn nguy khốn đè nặng lên cả dân tộc, điển hình là cảnh nô
lệ của dân Israel bên Ai cập; hoặc là trước tai hoạ của một cuộc ngoại xâm. Như
vậy, Israel xin Chúa cứu, nghĩa là xin cho thắng quân địch. Ngoài những nguy khốn
có tính cách chính trị, Israel cũng nếm những nguy khốn do thiên tai, chẳng hạn
như cảnh mất mùa, hạn hán, vân vân. Nói cách khác, hễ gặp bất cứ khó khăn tai
hoạ gì, thì họ cầu cứu với Chúa, xin Chúa tới cứu. Thiên Chúa được nhìn như “Đấng
Cứu độ” (Yehoshua = Cứu Chúa).
Thực ra,
trong Kinh thánh, có sự tiến triển về tư tưởng liên quan đến sự cứu độ. Tuy rằng
khi gặp bất cứ gian nan khổ cực nào, Israel cũng ngước mắt lên xin Chúa đến cứu
giúp, nhưng từ sau thời lưu đày, quan điểm của Cứu Chúa càng ngày càng mở rộng
nhãn giới. Họ không những cần Chúa giúp để thoát khỏi cơn hiểm nghèo trước mắt,
nhưng họ nhìn xa hơn. Họ nghĩ tới sự phục hưng của dân tộc; họ nghĩ tới cảnh
thái bình thịnh vượng hoàn toàn, khi mà họ không bao giờ còn bị khổ cực nữa,
cũng như sẽ không bao giờ sợ phải xa lìa Thiên Chúa nữa. Các ngôn sứ dần dần hướng
niềm hy vọng của Israel vào thời cánh chung, dám mơ ước sự cứu thoát toàn diện
khỏi hết mọi cơn nguy khốn, kể cả được cứu khỏi sự chết nữa[4]. Vào cuối thời Cựu ước, sách Đaniel và
Macabê quyển hai nhen nhúm niềm hy vọng người chết sẽ được sống lại.
Dù sao, tư tưởng
Kinh thánh hàm ngụ rằng sự cứu độ là ân huệ của Thiên Chúa (chứ không phải là
con người “tự cứu”); và ân huệ này được Chúa ban qua các nhân vật trung gian:
ông Mosê, các thủ lãnh, các vua, các thiên sứ, và đặc biệt là Vua-Mêsia (x. 2Sm
7,12-16). Vì thế các ngôn sứ thường nói gắn liền ơn cứu độ với thời của vị
Mêsia. Tuy nhiên sau thời lưu đày, niềm mong đợi vua Mêsia giảm sút, và được
thay thế bởi hình ảnh vị ngôn sứ, vị tư tế, và thậm chí hình ảnh Con Người (văn
chương khải huyền), hoặc người tôi tớ Thiên Chúa chịu đau khổ để đền tội cho
tha nhân.
B.
Tân ước
Tân ước tiếp
nối chiều hướng ấy[5]. Sự cứu độ là một ân huệ do Thiên Chúa
ban cho nhân loại qua Đức Giêsu, Đấng Mesia.
Sự gắn liền
ơn cứu độ với Đức Giêsu là một điều được khẳng định trong tất cả các tác phẩm
Tân ước. Nội dung của ơn cứu độ có thể được diễn tả tùy theo điểm nhấn của
mỗi tác giả, chẳng hạn như: “vương quốc Thiên Chúa” (Tin mừng nhất lãm)[6], “sự sống” “hiểu biết” “hiệp thông”
(Gioan)[7], “sự công chính hóa”, “hòa giải, bình
an”, “tạo dựng mới” (Phaolo)[8].
Từ đó, ta
cũng có thể hiểu được những bức chân dung khác nhau về Đức Giêsu nơi các tác giả:
a) Vị mục tử giải thoát (Tin mừng nhất lãm), cách riêng qua sinh hoạt trần thế;
b) vị Thượng tế hằng cửu, qua thập giá và sự phục sinh (Phaolo và thư gửi
Hipri); c) Ngôn sứ được Trời sai đến qua cuộc Nhập thể. Như thế chúng ta gặp lại
bộ ba “Vua – tư tế – ngôn sứ” đã nói trong chương trước (ba chức vụ của Đức
Kitô).
C.
Lịch sử thần học
Thần học diễn
tả ơn cứu độ Kitô giáo bằng những diễn ngữ thích ứng với văn hóa của không gian
và thời gian khác nhau.
1/ Các giáo
phụ Đông phương trình bày ơn cứu độ như là sự thành tựu của con người và của vũ
trụ trong đời sống thần linh, nhờ Đức Kitô nhập thể và vinh hiển: việc “thiên
linh hóa” con người (divinizatio). Việc cứu thoát khỏi sự dữ được gói
ghém trong chương trình giáo dục (paideia) của Thiên Chúa. Đức Kitô là
ơn cứu độ vì là ánh sáng, minh tuệ chiếu soi thế giới tối tăm. Lời Thiên Chúa đến
thế gian là người giáo dục (paidagógos) của nhân loại. Nhưng Người cũng
là Đấng cứu tinh bởi vì đã thắng các lực lượng ma quỷ đã giữ cầm giữ nhân loại
sau tội nguyên tổ. Vì thế các giáo phụ Đông phương nhấn mạnh đến việc Đức Giêsu
xuống cõi âm ti, để giành lại khỏi ma quỷ những quyền lợi mà nó đè nặng trên
con người. Sau cùng, Đức Kitô là Đấng thần linh hóa, bởi vì Người đã kết hợp
thiên tính với nhân tính của chúng ta do việc nhập thể, và đã thâm nhập thiên
tính và nhân tính của chúng ta qua việc phục sinh từ cõi chết.
2/ Các giáo
phụ Tây phương nêu bật khía cạnh tha thứ tội lỗi và xóa bỏ những hệ quả tạm thời
và vĩnh cửu của tội lỗi. Do đó các ngài đề cao hy lễ của Đức Kitô trên thập
giá. Tertulliano viết rằng Đức Kitô được sai đến để chết vì chúng ta; vì thế
Người cần phải sinh ra để có thế chết[9].
3/ Vào thời
Trung cổ, ý tưởng cứu độ được gắn với ý tưởng “cứu chuộc” dựa theo tư tưởng của
thánh Anselmô: Đức Kitô chuộc chúng ta khỏi làm nô lệ ma quỷ bằng giá máu của
Người.
4/ Vào thời Cận
đại, ông Martin Luther chuyển ơn cứu độ sang khía cạnh chủ quan của ơn cứu độ:
ơn cứu độ được hiểu như là quyền năng giúp vượt thắng những sự tha hóa phát
sinh bởi dục vọng, tội lỗi, lề luật, những lực lượng ma quỷ và sự chết. Ông nhấn
mạnh đến các bản văn của thánh Phaolô về việc trở nên công chính (Rm 5,1-5;
8,28-30), cũng như trở nên tự do (giải thoát: thư gửi Galat, chương 5).
Tóm lại,
trong lịch sử thần học, ơn cứu độ được giải thích theo ba chiều hướng: a) huyền
nhiệm: nêu bật khía cạnh thần hóa của việc nhập thể và phục sinh của Đức Kitô
(các giáo phụ Đông phương); b) pháp lý: nhấn mạnh đến khía cạnh hòa giải và cứu
chuộc (thánh Anselmo, kinh viện và Luther); c) khía cạnh luân lý, đề cao khía cạnh
giải phóng nằm trong những lời nói và hành động của Đức Giêsu.
5/ Thời nay,
quan niệm cổ truyền về cứu độ bị chỉ trích là chỉ chú trọng đến linh hồn (bỏ
qua thân xác), cá nhân (bỏ qua chiều kích xã hội và thế giới), cánh chung (mai
sau trên trởi, bỏ qua việc canh tân thế giới hiện tại. Vì thế để đáp ứng với
trào lưu vô thần tục hóa thời nay, cần phải lưu ý đến sự thành tựu trong thế giới
này, đến những khát vọng của con người thời nay (x. Thần học giải phóng,
thần học chính trị, vv). Đề tài cứu độ không mang tính cách trừu tượng nhưng có
ảnh hưởng đến đường hướng hoạt động của Giáo hội nữa. Nói cách khác, sự suy tư
về đối tượng ơn cứu độ gắn liền với sự suy tư về vai trò của Giáo hội đối với
ơn cứu độ, mà chúng ta đã gợi qua phần nào trong những đoạn trên đây khi bàn đến
các hoạt động truyền giáo.
II.
Giáo hội bí tích cứu độ
Trước tiên,
chúng ta sẽ xét đến khía cạnh tích cực, tìm hiểu ý nghĩa của công tác của Giáo
hội. Kế đó, chúng ta sẽ xét lại ý nghĩa của câu châm ngôn xem ra mang tính loại
trừ: “không có ơn cứu độ bên ngoài Giáo hội”.
A.
Giáo hội phục vụ ơn cứu độ
Về vai trò của
Giáo hội đối với ơn cứu độ, kể từ công đồng Vaticanô II, có hai thuật ngữ dần dần
trở nên quen thuộc: “Giáo hội là bí tích phục vụ ơn cứu độ”, và “và
ơn cứu độ nhắm toàn diện con người” (hoặc: “cứu độ toàn diện”, integral
salvation), nghĩa là bao hàm vừa chiều kích siêu việc (chiều cao) vừa chiều
kích lịch sử (chiều ngang). Chúng ta có thể trích dẫn bốn văn kiện tiêu biểu của
Huấn quyền.
1/ Lumen
gentium đã định nghĩa Giáo hội “như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ
và dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể
nhân loại” (số 1), hoặc “bí tích phổ quát của sự cứu độ” (LG 48). Như vậy
sự cứu độ có nghĩa là vừa hiệp thông với Thiên Chúa vừa hiệp thông với loài người,
vừa mang chiều kích cánh chung vừa mang chiều kích lịch sử. Ở một đoạn khác, hiến
chế mô tả Giáo hội như là “một mầm mống rất hữu hiệu của sự hợp nhất, hy vọng
và cứu độ cho toàn nhân loại” (LG 9). Và sau khi đã giới thiệu Chúa Giêsu như
là “tác giả của ơn cứu độ và nguyên ủy của hợp nhất và hòa bình”, hiến chế nói
đến Giáo hội như là “bí tích hữu hình của sự hợp nhất cứu độ này”. Thuật ngữ “hợp
nhất cứu độ” (unitas salvifica) bắt nguồn từ thánh Cypriano, coi ơn cứu
độ và hợp nhất như là đồng nghĩa (xem thêm số 13).
2/ Gaudium
et spes khai triển thêm chiều kích lịch sử của ơn cứu độ. Chẳng hạn ở
số 40, công đồng viết: “Phát sinh từ tình yêu của Chúa Cha hằng hữu[10], được
thiết lập trong thời gian bởi Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế, được qui tụ
trong Chúa Thánh Thần[11], Giáo
Hội hướng về đích điểm liên quan đến ơn cứu rỗi và cánh chung. Mục
đích này chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong thời tương lai. Nhưng
bây giờ Giáo Hội đang hiện diện trên trái đất này, qui tụ những con
người là phần tử của xã hội trần gian; những người được kêu gọi để
hợp thành gia đình con cái Thiên Chúa ngay trong lịch sử nhân loại,
vẫn đang tăng trưởng không ngừng cho tới khi Chúa đến. Được liên kết
nên một để đón nhận những ân lộc thiên quốc và nhờ đó được nên sung
mãn, gia đình này, nhờ Chúa Kitô, “được thiết lập và được tổ chức
như một cộng đồng tại thế”[12], được
trang bị “các phương thế thích hợp cho mối liên kết hữu hình mang
tính xã hội”[13]. Như vậy,
là “một đoàn thể hữu hình và là cộng đoàn thiêng liêng”[14], Giáo
Hội đồng hành với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ số phận trần
thế với thế giới; Giáo Hội như men và linh hồn của xã hội loài
người[15], một xã
hội phải được đổi mới trong Chúa Kitô và trở nên gia đình của Thiên
Chúa. Thật ra, sự tương nhập giữa hai thành đô trần thế và thiên quốc
chỉ có thể nhận thức được qua đức tin. Hơn nữa, vẫn còn đó mầu
nhiệm của lịch sử nhân loại, một lịch sử vẫn còn bị xáo trộn vì
tội lỗi cho đến khi vinh quang con cái Thiên Chúa được mạc khải trọn
vẹn. Tuy nhiên, trong khi theo đuổi mục đích riêng của mình là đón
nhận ơn cứu rỗi, Giáo Hội không chỉ thông truyền sự sống Thiên Chúa
cho con người, nhưng còn chiếu giãi một cách nào đó ánh sáng của sự
sống ấy trên toàn thế giới. Giáo Hội làm công việc này, trước tiên
bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá con người, củng cố cơ cấu
của xã hội nhân loại, đồng thời làm cho hoạt động thường nhật của
con người có được một hướng đi và mang một ý nghĩa sâu xa hơn. Như
thế, nhờ từng phần tử và tất cả cộng đoàn, Giáo Hội tin tưởng có
thể đóng góp nhiều vào việc biến đổi gia đình và lịch sử loài
người trở nên nhân đạo hơn”. Một tư tưởng tương tự được lặp lại ở số 45:
“Khi trợ giúp thế giới cũng như khi được thế giới hỗ trợ, Giáo
Hội chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm cho Nước Chúa trị đến và
toàn thể nhân loại được cứu rỗi. Mọi lợi ích mà đoàn Dân Thiên
Chúa, trong thời gian còn đang lữ hành tại thế, có thể đem lại cho
gia đình nhân loại, đều phát xuất từ sự kiện này: Giáo Hội là “bí
tích phổ quát của ơn cứu rỗi” (LG 48), tỏ bày và đồng thời thực
hiện mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa đối với con người”.
Trong các văn
kiện sau công đồng Vaticanô II, chúng ta chỉ giới hạn vào hai đoạn liên quan đến
công tác truyền giáo của Giáo hội.
3/ Văn kiện
thứ nhất là tông huấn Loan báo tin mừng (Evangelii nuntiandi, 8-12-1975) của ĐTC Phaolô VI. Ở số 9, chúng ta thấy khái niệm cứu độ được gắn với
“giải phóng” dưới nhiều phương diện: “Đức Kitô loan báo ơn cứu độ như
là nòng cốt và trung tâm của Tin Mừng. Ơn cứu độ là hồng ân lớn lao của Chúa giải
thoát họ khỏi mọi áp búc, nhất là giải thoát họ khỏi tội lỗi và thần dữ, trong
niềm vui nhận biết Thiên Chúa và được Ngài biết tới, được thấy Ngài, được hiến
dâng cho Ngài. Ơn cứu độ được khởi sự suốt đời Đức Kitô và được hoàn tất qua
cái chết và sự Phục sinh của Ngài, nhưng ơn này phải kiên trì đi qua dòng lịch
sử để được thực hiện cách viên mãn trong ngày Đức Kitô lại đến, ngày mà không
ai biết, trừ Chúa Cha (Mt 24,36)”; bước sang số 28, khi bàn đến đối tượng của
việc loan báo Tin mừng, văn kiện viết: “Vì thế việc loan báo Tin mừng không
thể không chứa đựng sự tiên báo về một thế giới bên kia, vì đó là định mệnh sâu
xa và quyết định của con người vừa liên tục, vừa gián đoạn với hoàn cảnh hiện tại
vượt qúa thời gian và lịch sử, vượt quá cái thực tại của thế giới mà bộ mặt
đang qua đi và mọi sự vật của thế giới mà chiều kích tàng ẩn, một ngày kia sẽ
được biểu lộ ; vượt quá chính con người mà vận mệnh đích thực không mai một nơi
vẻ mặt trần tục của nó, nhưng sẽ được mạc khải trong cuộc sống mai hậu (1Ga 3,2
; Rm 8,29 ; Ph 3,20-21)”. Liền đó (số 29) văn kiện nói thêm: “Nhưng việc
loan báo Tin mừng không hòan hảo nếu không để ý đến những liên hệ cụ thể và thường
xuyên giữa Tin Mừng và đời sống, cá nhân và xã hội của con người. Vì thế việc
loan báo Tin mừng bao gồm một sứ điệp minh nhiên, thích nghi với những hoàn cảnh
khác nhau, một sứ điệp luôn có tính cách hiện đại về những quyền lợi và những bổn
phận của tất cả mọi người, về đời sống gia đình, vì không có gia đình thì cá
nhân không thể phát triển được, về đời sống chung trong xã hội, về đời sống quốc
tế, về hòa bình, công bình và phát triển. Đó là một sứ điệp mạnh mẽ đặc biệt của
thời đại chúng ta về sự giải phóng.” Do đó, có một sự liên kết chặt
chẽ giữa việc loan báo Tin mừng vào sự thăng tiến con người. Lý do tại vì
ơn cứu độ bao trùm toàn diện con người, như số 31 giải thích: “Giữa việc
loan báo Tin mừng và việc thăng tiến con người, tức phát triển và giải phóng,
có những mối liên hệ sâu xa thực sự. Liên hệ có tính cách nhân văn, bởi vì
con người cần được loan báo Tin mừng không phải là một hữu thể trừu tượng nhưng
gắn liền với những vấn đề xã hội và kinh tế. Liên hệ có tính cách thần học,
bởi vì chúng ta không thể tách rời bình diện Sáng tạo khỏi bình diện Cứu chuộc
; thật thế, ơn cứu chuộc cũng đạt tới những hoàn cảnh rất cụ thể của sự bất
công cần phải chấm dứt và sự công bình phải tái lập. Bác ái là liên hệ tiêu biểu
nhất của Tin Mừng : Thực vậy, làm sao có thể loan truyền điều răn mới mà không
làm phát triển sự lớn mạnh đích thực của con người trong công lý và hòa bình ?
Chính Ta cũng lưu ý đến điều này khi nhắc lại là không thể chấp nhận quan niệm
cho rằng : “Việc loan báo Tin mừng có thể hoặc phải khinh thường những vấn đề hết
sức quan trọng và sôi nổi nhất hiện nay, liên quan đến công lý, giải phóng,
phát triển và hòa bình trong thế giới. Nếu để tình trạng đó xảy ra, tức là
không biết đến giáo lý Tin Mừng về tình yêu đối với tha nhân đang đau khổ hoặc
thiếu thốn”.
4/ Trong
thông điệp Redemptoris Missio (7-12-1990) của Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II, chúng ta thấy ơn cứu độ được liên kết với vương triều
Thiên Chúa. Ngoài “bí tích của ơn cứu độ” (số 9) ta có thể nói rằng Giáo hội là
“bí tích của vương triều” (số 20).
Thật vậy, sau
khi đã giải thích những đặc tính của vương quốc ở số 14 và 15 (“Việc giải phóng
và ơn cứu độ từ Vương Quốc của Thiên Chúa đến với con người theo cả chiều kích
thể lý cũng như tâm linh”; “Vương Quốc của Thiên Chúa nhắm đến việc biến đổi
các mối liên hệ loài người … Bởi thế, bản chất của Vương Quốc Thiên Chúa là một
bản chất hiệp thông tất cả loài người -hiệp thông với nhau cũng như với Thiên
Chúa”), thông điệp nói đến những cách thức chính yếu mà Giáo hội phục vụ Vương
quốc: a) loan báo Tin mừng; b) thiết lập các cộng đồng; c) loan truyền “các giá
trị Phúc âm” (tự do, huynh đệ, hoà bình và công lý), nhờ chứng tá cũng
như các hoạt động như đối thoại, đề cao nhân bản, dấn thân cho công lý và hòa
bình, cho việc giáo dục con người và việc chăm sóc bệnh nhân, cho việc trợ giúp
người nghèo và trẻ em; d) chuyển cầu.
Tóm lại, khái
niệm cứu độ Kitô giáo bao gồm những yếu tố chính sau đây:
– Nó là ân huệ
của Thiên Chúa ban, chứ không phải là thành quả của cuộc chinh phục từ phía con
người. Ân huệ này được ban qua Đức Giêsu Kitô
– Con người
đón nhận ân huệ này một cách tích cực, chứ không hoàn toàn thụ động. Điều kiện
đầu tiên là tin và hoán cải.
– Ơn cứu độ
này ảnh hưởng đến toàn thể con người: tâm linh và siêu việt; thể chất và lịch sử;
cá nhân và cộng đồng.
B.
Extra ecclesiam nulla salus
Vai trò quan
trọng của Giáo hội đối với ơn cứu độ được diễn tả qua châm ngôn: “Không có ơn cứu
độ bên ngoài Giáo hội”. Phải hiểu câu nói này như thế nào? Chúng ta hãy nhìn lại
lịch sử của châm ngôn ấy cùng với sự tiến triển của việc giải thích.
1/ Thời các
giáo phụ
Công thức này
xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỷ III, nơi các tác phẩm của ông Origène và
thánh Cyprianô.
a) Ông Origène có
lần tuyên bố : “Ở ngoài căn nhà này – nghĩa là ngoài Giáo hội – không ai được cứu
độ” (extra hanc domum, id est extra ecclesiam, nemo salvatur)[16]. Tác giả đang khuyến khích những người
Do thái hãy gia nhập Giáo hội, bởi vì “không có ơn cứu độ ngoài máu của Chúa
Giêsu”, và duy chỉ trong Giáo hội mới có hoa trái của máu cứu chuộc của Chúa
Kitô.
b) Tác giả
câu châm ngôn “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” (salus extra Ecclesiam non
est: Ep 73) là thánh Cyprianô, người đã có lần tuyên bố: “Ai
không có Giáo hội là mẹ thì không thể có Thiên Chúa là cha” (De catholicae
ecclesiae unitate, 6). Bối cảnh lịch sử của nó là bài giảng về sự hợp nhất
trong Giáo hội, được tượng trưng nơi cộng đoàn gắn bó với vị giám mục, đứng trước
tình trạng chia rẽ phân hóa nội bộ. Thánh Cyprianô không đặt vấn đề tổng quát về
sự cứu rỗi của người ở ngoài Giáo hội. Mối bận tâm của ngài là sự hợp nhất
trong Giáo hội: sự chia rẽ là tội lỗi, nó không phải là con đường cứu độ mà là
con đường diệt vong. Tác giả không lo lắng đến ơn cứu độ của toàn thể nhân loại
cho bằng sự hợp nhất trong nội bộ, đang bị tổn hại do những cuộc bách hại bên
ngoài và những chia rẽ bên trong. Cũng giống như ông Origene, bản văn của thánh
Cyprianô mang tính khuyến dụ, chứ không phải là một tuyên bố tín lý phổ quát.
c) Với thánh
Augustinô, bối cảnh đã thay đổi. Một đàng, chống lại nhóm Đonato, ngài nhấn mạnh
sự cần thiết phải gia nhập và ở lại trong Giáo hội công giáo, bởi vì chỉ ở đó mới
có charitas ban ơn cứu độ. Đàng khác, khi bàn về ơn cứu độ
trong tương quan với ân sủng và tội nguyên tổ, thánh nhân đưa ra bối cảnh Ecclesia
ab Abel, nghĩa là một Giáo hội được cấu thành bởi tất cả những người được
chọn và những người công chính ngay từ lúc khai nguyên của nhân loại. Theo quan
niệm này, nguyên tắc “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” là đúng, bởi vì ai được
cứu độ là ở trong Giáo hội.
d) Ngoài ra,
một vài giáo phụ còn xướng lên những đề tài mở rộng đến ơn cứu độ phổ quát, tựa
như “hạt giống của Lời” (semina Verbi) của thánh Giustino, hoặc “Đức
Giêsu xuống âm ti” giảng sự cứu độ[17].
Tóm lại, các
giáo phụ đã xác tín hai điều: 1/ Giáo hội là cộng đoàn cứu độ, vì thế cần phải
gia nhập Giáo hội. 2/ Ơn cứu độ của Đức Kitô được ban cho tất cả mọi người,
nghĩa là kể cả bên ngoài biên cương Giáo hội. Dù sao, đừng quên rằng thời ấy
người ta cho rằng tin mừng đã được loan báo khắp thế giới, vì vậy ai không theo
đạo là tại vì họ không muốn mà thôi.
2/ Thời Trung
cổ
a) Câu châm
ngôn được Fulgentius a Ruspe (k.467-532), một đồ đệ của thánh
Augustino, giải thích theo nghĩa chặt chẽ, và sau này được công đồng Firenze
(năm 1442) lấy lại. Bối cảnh là một lời khuyến dụ hãy ở lại trong Giáo hội công
giáo. Ngoài Giáo hội không thể nào được cứu độ bởi vì ý định cứu độ của Thiên
Chúa đã được tỏ lộ trong Giáo hội. Bởi vậy, không ai sống ngoài Giáo hội công
giáo – những người ngoại đạo, những người Do thái, những người lạc giáo và ly
giáo – có thể thông dự ơn cứu độ vĩnh cửu: họ sẽ rơi vào lửa đã dọn sẵn cho ma
quỷ (Mt 25,41), nếu không gia nhập Giáo hội trước khi lìa đời[18]. Thiết tưởng chúng ta nên đặt câu văn
trong bối cảnh huấn dụ: tác giả nói cho những người đã gia nhập Giáo hội (và
yêu cầu họ đừng lìa bỏ Giáo hội), chứ không nói với những người ở ngoài Giáo hội.
Sau này, khi trích lại đoạn văn của Fulgentius, công đồng Firenze không nói
cách trừu tượng, nhưng đang bận tâm đến sự chia rẽ giữa Giáo hội Đông phương và
Tây phương, và kêu gọi sự cần thiết phải tái lập Giáo hội bất khả phân ly.
b) Thánh Tôma
Aquino mở rộng tầm nhìn ơn cứu độ đến Chúa Kitô. Một đàng, ngài lấy lại quan điểm Ecclesia
ab Abel của thánh Augustino; đàng khác, ngài móc nối ơn cứu độ với
Chúa Kitô. Người là đầu của nhân loại, và tháp nhập các phần tử cách tiệm tiến
và bằng nhiều cách thức. Do đó, Giáo hội được mở rộng, vượt lên trên ranh giới
của định chế hiện hành.
c) Nói chung,
thần học kinh viện đã phát biểu vài nguyên tắc quý báu để giải quyết vấn đề ơn
cứu độ của những người ngoài Giáo hội:
– Để được cứu độ, cần phải tin vào một chân lý tối thiểu, dựa trên Hr 11,6 (“Ai
đến gần Thiên Chúa thì phải tin rằng Thiên Chúa hiện hữu và ban thưởng cho những
kẻ tìm kiếm ngài”).
– Phân biệt giữa việc lãnh bí tích rửa tội bằng nước (in re) và bằng
lòng ước ao (in voto). Theo Petrus Lombardus, Thiên Chúa không ràng buộc
quyền năng của mình vào các bí tích.
– Sự vô tri bất khả kháng thì không có tội. Alexander Hales đưa ra giả thuyết
là Chúa ban ánh sáng cần thiết cho người nào làm hết sức của mình.
d) Các bản
văn Huấn quyền vào thời Trung cổ đi theo lập trường cứng rắn của Fulgentius,
trong khung cảnh những cuộc chia rẽ trong Giáo hội. Trong những văn kiện nhấn mạnh
đến sự cần thiết phải thuộc về Giáo hội để được cứu rỗi, chúng ta có thể nhắc đến:
Bulla Unam sanctam của ĐGH Bonifatius VIII (năm 1303: Dz.Sch
870-875), Decretum pro Jacobitis của công đồng Firenze (năm
1442: Dz.Sch. 1351)
3/ Thời cận đại
Với việc
“khám phá” các lục địa mới (châu Mỹ, châu Phi, châu Á), Giáo hội nhận ra rằng
còn rất nhiều dân tộc chưa hề được nghe giảng Tin mừng. Vấn đề ơn cứu độ của những
người ngoài Giáo hội được đặt lại hoàn toàn! Dù sao, người ta bắt đầu lưu tâm
hơn đến khía cạnh “chủ thể”, nghĩa là trách nhiệm luân lý của đương sự (sự ngay
tình, hoặc sự vô tri bất khả kháng).
a) Trong thần
học công giáo, có hai khuynh hướng:
– Một khuynh
hướng khắt khe (điển hình nơi nhóm Jansenist) chủ trương rằng ai không ở trong
Giáo hội thì không được cứu rỗi. Họ đồng hóa Giáo hội với ân sủng (P. Quesnel).
Giáo hội gồm bởi tất cả những người công chính và được tuyển chọn (Denz-Sch
2472; 2476).
– Một khuynh
hướng cởi mở (tượng trưng bởi Dòng Tên, do kinh nghiệm truyền giáo với các dân
tộc), nhấn mạnh đến ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa.
b) Nói chung,
để giải quyết vấn đề, người ta lấy lại các nguyên tắc của thời Trung cổ: sự vô
tri bất khả kháng; sự tin nhận hai chân lý tối thiểu; bí tích rửa tội “in
voto”. Tuy nhiên, vì phải đương đầu với vấn nạn mới của nhóm Phản kháng (chủ
trương một Hội thánh vô hình), thần học công giáo cận đại nhấn mạnh đến việc
thuộc về giáo hội hữu hình (qua ba mối dây của việc tuyên xưng đức tin, lãnh nhận
bí tích, chấp nhận hàng phẩm trật), và gặp khó khăn khi giải quyết ơn cứu độ của
những người sống ngoài Giáo hội. Cuộc tranh luận này làm lu mờ mối tương quan
giữa ơn cứu độ với Chúa Kitô (mà Giáo hội chỉ là công cụ).
c) Những
tuyên ngôn Huấn quyền vào giai đoạn này chống lại khuynh hướng khắt khe của
nhóm Jansenist, chứ không đụng tới khuynh hướng cởi mở.
4/ Huấn quyền
của Tòa Thánh trước Vaticanô II
Cần ghi nhận
hai lần can thiệp dưới triều giáo hoàng Piô IX và Piô XII.
a) ĐTC Piô IX
đánh dấu một bước tiến, khi nhìn nhận rằng những người ngoài Giáo hội có thể được
cứu độ. Trong huấn quyền của ĐTC Piô IX cần ghi nhận hai khía cạnh của vấn đề.
Một đàng, ngài lên án chủ trương cho rằng bất cứ tôn giáo nào cũng có thể mang
lại ơn cứu độ. Đàng khác, ngài du nhập nguyên tắc “vô tri bất khả kháng” (ignorantia
invincibilis, hoặc “lầm lẫn ngay tình”: error in bona fide).
Thông điệp Quanta conficiamur moerore (1863), sau khi tái khẳng
định tín điều về ơn cứu độ trong Giáo hội, nhìn nhận rằng có những người không
biết Kitô giáo, nhưng vẫn trung thành tuân giữ luật tự nhiên, sống ngay chính.
Họ có thể được cứu độ nhờ ánh sáng và ân sủng của Chúa. Lý do đưa ra không những
vì Chúa nhân lành và giàu lòng thương xót, mà còn vì Ngài là Đấng Công bình:
không lẽ nào Thiên Chúa lại phạt trầm luân những kẻ không phạm tội một cách ý
thức!
b) Năm 1949,
Bộ Thánh vụ (ngày nay là Bộ Đạo lý đức tin) gửi một lá thư cho tổng giám mục
Boston, để phản đối sự giải thích cứng rắn phương châm extra ecclesiam
nulla salus của cha Leonard Feeney S.J., theo đó muốn được cứu rỗi thì
cần phải thuộc về Giáo hội một cách hữu hình và in re; hoặc ít
là in voto explicito. Văn kiện lấy lại tư tưởng “vô tri bất khả
kháng” và “votum implicitum”, nghĩa là thái độ của ý muốn sẵn sàng tuân theo ý
Chúa, và khẳng định rằng một đàng Giáo hội là phương tiện cần thiết để được cứu
độ; đàng khác, người ta có thể thuộc về Giáo hội in voto
implicito (Denz-Sch. 3866-3873).
5/ Công đồng
Vaticanô II
Công đồng bàn
đến vấn đề này ở nhiều đoạn khác nhau, nhưng dưới một hình thức khác. Thay vì
phát biểu cách tiêu cực “không có ơn cứu độ bên ngoài Giáo hội”, Lumen
gentium phát biểu cách tích cực hơn: “Giáo hội cần thiết cho sự cứu độ”.
Mặt khác, Giáo hội được nhìn dưới lăng kính của “mầu nhiệm” chứ không thuần túy
như định chế; vì thế phân biệt những cấp độ “thuộc về” khác nhau, qua việc sử dụng
các động từ pertinere, incorporari, coniungi, ordinari ở các số
14-16 khi nói đến các thành phần của Dan Thiên Chúa. Nói cách khác, chúng ta có
thể phân biệt hai khía cạnh của vấn đề: khách thể và chủ thể.
5.1 Dưới
khía cạnh khách thể, công đồng tuyên bố rằng Giáo hội cần thiết cho ơn cứu
độ.
Số 14 viết
như sau: “Dựa trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, Công Đồng dạy rằng
Giáo Hội lữ hành trên trần thế này rất cần thiết cho việc lãnh
nhận ơn cứu độ. Thật vậy, chỉ có một Đức Kitô duy nhất là trung gian
và là đường cứu độ, Đấng đang hiện diện giữa chúng ta trong Thân
Mình Người là Giáo Hội; chính khi minh nhiên công bố đức tin và ơn
Thánh tẩy là cần thiết (x. Mc 16,16; Ga 3,5), Người đã cùng lúc xác
nhận sự cần thiết của Giáo Hội mà mọi người phải bước vào qua cửa
ngõ là bí tích Thánh tẩy. Vì thế, những ai biết rằng Giáo Hội Công
giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Đức Giêsu Kitô như một điều kiện
thiết yếu, mà vẫn từ chối không gia nhập hoặc không trung thành sống
trong Giáo Hội, thì không thể được cứu độ”.
Có vài điểm
đáng ghi nhận:
– Công đồng
nói đến sự cần thiết của Giáo hội “ở dưới đất” (chứ không bàn đến Giáo hội “ở
trên trời”).
– Sự cần thiết
của Giáo hội đặt nền tảng trên Đức Kitô dưới hai khía cạnh: a) Xét theo bản chất:
bởi vì Đức Kitô là đấng trung gian duy nhất của ơn cứu độ; Giáo hội chia sẻ vào
vai trò của Người xét vì là thân thể của Người. b) Xét theo ý định của Đức
Kitô: khi ấn định sự cần thiết của đức tin và phép rửa, Người cũng ấn định sự cần
thiết của Giáo hội. (xem thêm LG 48 nói đến “Giáo hội là bí tích của ơn cứu độ”).
Nói cách khác, đối với ơn cứu độ, sự cần thiết của Giáo hội nằm trên bình diện
“phương tiện” (necessitas medii); duy Đức Kitô mới thực sự là tuyệt đối
cần thiết. Ta có thể đồng hóa ơn cứu độ với Đức Kitô, chứ không thể nào đồng
hóa với Giáo hội, bởi vì Giáo hội chỉ là phương tiện, “bí tích” chuyển thông ơn
cứu độ.
– Vì thế, người
nào minh nhiên khước từ sự cần thiết của Giáo hội thì sẽ không được cứu độ.
5.2 Khía
cạnh chủ thể
Công đồng xét
đến những mối dây liên kết giữa Giáo hội với các thành phần tùy theo cấp độ hiểu
biết của từng người.
a) Đứng đầu
là các tín đồ Công giáo
Số 14 vừa
trích dẫn nói về sự cần thiết của Giáo hội được áp dụng cách riêng cho các tín
đồ Công giáo, nghĩa là những người đã biết rõ sự cần thiết ấy. Họ “thuộc về”
Giáo hội công giáo nhờ ba mối dây (tuyên xưng đức tin, các bí tích, hiệp thông
phẩm trật), nhờ ơn Chúa, và họ cần cảnh giác ngõ hầu duy trì tình trạng ân sủng,
để tránh nguy cơ là chỉ thuộc về “thân xác” chứ không thuộc về “con tim” của
Giáo hội (sự phân biệt này lấy từ thánh Augustino.
b) Thứ đến là
các Kitô hữu ngoài Giáo hội Công giáo (số 15).
Trước đây,
thông điệp Mystici corporis của ĐTC Pio XII đồng hóa Hội thánh
Chúa Kitô với Giáo hội công giáo. Hiến chế Lumen gentium (số
8) châm chước khẳng định ấy khi tuyên bố rằng Hội thánh Chúa Kitô subsistit trong
Giáo hội Công giáo. Động từ này gián tiếp nhìn nhận các Giáo hội ngoài công
giáo cũng chứa đựng nhiều bona Ecclesiae (Lời Chúa, bí tích),
vì thế họ cũng “thuộc về” Hội thánh Chúa Kitô. Công đồng tránh dùng những từ ngữ
tiêu cực (ly giáo, lạc giáo, bởi những “tội” này do cá nhân lỗi phạm, chứ không
phải do sự sinh ra trong các cộng đoàn giáo hội. Cần nói thêm là mối dây liên kết
giữa Giáo hội công giáo với các cộng đoàn này không đồng đều (các giáo hội
Chính thống thì khác với các giáo hội Tin lành).
c Mối liên lạc
với những người ngoài Kitô giáo (số 16)
Tuy dù nhìn
nhận những cấp độ khác nhau trong nhóm này (các tín đồ Do thái, đạo Islam, các
tôn giáo khác, và kể cả người vô thần), nhưng nói chung, công đồng tuyên bố rằng:
“vì Đấng Cứu Thế muốn mọi người đều được cứu độ (x. 1 Tm 2,4).
Thật vậy, những ai không vì lỗi của mình mà chưa biết đến Tin Mừng
của Đức Kitô và Giáo Hội Người, nhưng lại thành tâm tìm kiếm Thiên
Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng hành động để chu
toàn thánh ý Thiên Chúa được biểu lộ qua mệnh lệnh của lương tâm,
thì vẫn có thể đạt được ơn cứu độ vĩnh cửu[19]. Cả những
người không vì lỗi của mình mà chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ
ràng, nhưng cố gắng sống đời chính trực, dĩ nhiên là với ơn Chúa,
thì Chúa Quan Phòng cũng không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết để
họ được cứu độ”.
Như vậy, những
người “do sự vô trì bất khả kháng” mà không biết Tin mừng thì vẫn có thể được cứu
độ dựa trên nguyên tắc “ý muốn phổ độ của Thiên Chúa” (1Tm 2,4). Thiên Chúa có
thể an bài cho các tín đồ của các tôn giáo gặp gỡ Ngài nhờ “đạo” của họ, được
coi như là những “chuẩn bị cho Tin mừng” (praeparatio evangelica).
Công đồng sẽ
còn khai triển các đề tài này trong Sắc lệnh về đại kết (Unitatis
Redintegratio) và Tuyên ngôn giữa Giáo hội và các tôn giáo (Nostra
Aetate)[20].
——————————–
[1] Cần
lưu ý đến sự khác biệt giữa “cứu” (salvare) và “chuộc” (redimere:
chuộc lại, mua lại bằng một giá). Trong tiếng Hip-ri, động từ “chuộc” là
ga’al = chuộc lại một thân nhân đã bị bán hoặc bị bắt làm nô lệ; danh từ là
go’el = người trả tiền để mua lại tài sản hoặc để giải thoát thân nhân bị bắt.
Tiếng Hy-lạp là lytroo. Từ đó, Đức Kitô mang tước hiệu
là Salvator (tiếng Pháp là Sauveur và tiếng
Anh là Saviour) hoặc Redemptor (tiếng Pháp
là Rédempteur, tiếng Anh là Redeemer). Tuy nhiên danh
xưng Salvator hợp với Tân ước hơn, tuy dù danh xưng này (Soter)
vừa áp dụng cho Đức Kitô (Lc 2,10; Ga 4,42; Cv 5,31; 13,23; Pl 3,20; Ep 5,23;
Tt 3,6), vừa áp dụng cho Thiên Chúa (Lc 1,47; 1Tm 4,10). Tân ước nói đến sự
“chuộc về” (redemptio) nhưng không gọi Đức Kitô với danh hiệu “Đấng chuộc
về” (Redemptor).
[2] Độ
là bến đò, đưa đò qua sông; chở qua bến; sóng mê, đạt đến bờ bên kia (paramita).
Độ trì (giúp đỡ, cứu vớt). Phù trì (giúp đỡ).
[3] Hai
động từ điển hình padah (giải thoát) và ga’al (chuộc về).
[4] Có
thể xem một lời tuyên xưng đức tin điển hình cho tư tưởng này là Tv 68,21:
“JHWH Chúa chúng ta là Thiên Chúa cứu độ, Đấng cứu chúng ta khỏi cái chết”.
[5] Các
từ ngữ trong tiếng Latinh: salvus (tốt đẹp, lành mạnh, nguyên
vẹn), với các động từ salvere (mạnh khỏe, an mạnh) và salvare (cứu
thoát); các danh từ salus (sức khỏe) và salvatio (sự
cứu). Trong Tân ước, có nhiều từ tương đương với “cứu”: lyo (tháo
gỡ, giải thoát, đôi khi để trao đổi cái gì đó, lytron, buôn
bán); sódsó (cứu khỏi một mối nguy đe dọa sự sống), rhyomai (phòng
ngừa khỏi một mối nguy). Đặc biệt là hai từ sotér (người giải
thoát hay giữ gìn x. Mt 1,21; Le 2,11 ; Ga 4 42; Cv 5,32 1Tm 1,1; 4,10; Pl
3,20; Ep 5,23; 2Tm 2,10; Tt 1,4; 2,13; 1 Ga 4,14; 2Pr 1,1; Gđ 25), sotería ơn
mà Đức Kitô mang đến (x. Lc 1,77; 19,9; Ga 4,22; Cv 4,12; Rm 1,16; Ep
1,13; 1Tx 5,9; 2Tx 2, 13-14; 2Tm 2,10; 3,15; Hr 2,10; 5,9; 9,28; 1Pr 1,5tt)
[6] Thí
dụ Mc 1,15.
[7] Thí
dụ 1Ga 1,1-4.
[8] Thí
dụ 2Cr 5,18-21.
[9]«Solus
Christus in carnem ex carne nasci habebat, ut nativitatem nostram nativitate
sua reformaret, atque ita etiam mortem nostram morte sua dissolveret resurgendo
in carne in qua natus est ut et mori posset»: Tertulliano, AdversusMarcionem,
III 9,3 (PL II, col. 334).
[10] x.
Tt 3,4: “Philanthropia”.
[11] x.
Ep 1,3; 13-14; 23.
[12] x.
VATICAN II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 8.
[13] x.
nt., 9. 8.
[14] x.
nt., 8.
[15] x.
nt., 38, và ghi chú 9.
[16] In
Iesu Nave hom. V,3: MG 12,841-842.
[17] Xem
giải thích ở số 633 của sách GLCG.
[18] De
fide ad Petrum 38,79; x. Denz.Sch 1351.
[19] x.
Thư của Bộ Thánh Vụ gởi cho Tổng giám mục Boston: Denz-Sch 3869-72.
[20] Có thể đọc thêm các số báo Thời sự thần học: Số 63 (tháng 2/2014): “Thần học đại kết”. Số 62 (tháng 11/2013): “Đức tin và tín ngưỡng”.

