Lăng kính mới


G.B. Nguyễn Văn Dương

Đức hồng y Catalamensa từng ví von rằng: Khi nhìn lên các ô cửa kính trên đền thờ từ ngoài vào, chúng ta chỉ thấy những mảnh thủy tinh được gắn kết cách nguệch ngoặc với nhau. Nhưng cũng với ô kính đó, nhìn từ trong ra dưới ánh sáng mặt trời, nó hoàn toàn khác. Đó là một bức tranh tuyệt mỹ được liên kết với nhau một cách tinh tế và hết sức kỳ công. Nếu Đức hồng y muốn ví ngôi đền thờ đó với Giáo Hội, thì tôi cũng không ngại mượn hình ảnh này để so sánh với cuộc sống con người. Quả thật, bức tranh cuộc đời cũng được nhìn nhận và đánh giá bằng nhiều cách, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, từng thời điểm và từng lăng kính của mỗi người.

Hình ảnh tông đồ Phaolô là một minh chứng cho điều đó. Ông đã có kinh nghiệm gặp gỡ Đức Kitô phục sinh. Trước đây, Phaolô tự hào về bản thân, luôn đặt và giữ luật làm tâm điểm, là lẽ sống của cuộc đời. Ông thực hành luật như một Pharisêu cuồng tín, ôm lấy sự khắt khe trong chữ viết của luật để tuân giữ từng điểm nhỏ mà chẳng tìm kiếm tinh thần của nó. Vì vậy, ông luôn nhìn mọi sự kiện diễn ra bằng lăng kính của từng khoản luật được quy định. Phaolô xem mình là chuẩn mực nhờ làm như vậy. Ví thế ông cũng muốn mọi người phải trở nên như mình. Phaolô sẵn sàng mạo hiểm cả tính mạng để bắt bớ ngược đãi những Kitô hữu, là những người không chung lý tưởng với ông. Để rồi, trên đường Đamát, khi truy lùng, bắt bớ những môn đệ Chúa Kitô, một biến cố xảy ra. Thiên Chúa đã chiếu sáng, khiến mắt ông không còn thấy gì, sau đó Chúa dùng ông Khanania để làm cho mắt Phaolô lại được thấy (x. Cv 9,10-18). Qua đó ông nhận biết và gặp gỡ Chúa Kitô. Từ đó, ông thay đổi tiêu chuẩn và đặt lăng kính mới cho bản thân. Trước đây ông nhìn mọi người bằng con mắt của sự tức giận, hầm hực bởi lăng kính của lề luật. Thì giờ đây, nhờ ơn Chúa, Phaolô thay đổi hoàn toàn, nhờ việc trả lại vị trí trung tâm vốn dĩ là của Chúa và nhìn mọi sự bằng lăng kính quy Kitô, tình yêu, hy sinh và phục vụ. Dầu cho trước đây ông là người hung hăng để bắt đạo, thì lúc này Phaolô lại nhiệt thành loan báo Tin Mừng. Trước đây, ông xem việc giữ luật và có quốc tịch Rôma là niềm vinh dự, thì giờ đây, Phaolô coi tất cả những thứ đó chỉ là rơm rác trước mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô. Vì Đức Kitô, ông sẵn sàng từ bỏ tất cả. Phaolô không còn xem việc công chính hóa là nhờ vào bản thân hay do luật Môisê đem lại. Nhưng là do lòng tin vào Đức Kitô, nghĩa là do ân ban của Thiên Chúa (x. Pl 3,5-9). Vốn dĩ, Phaolô thay đổi hoàn toàn như vậy, là do ông đã gặp được một biến cố, gặp một con người là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết cho ông ngay khi ông còn đang là tội nhân (x. Rm 5,8), Phaolô kinh nghiệm được tình yêu đó, nên ông hoán cải, thay đổi cuộc đời.

Tình yêu thì không thế giữ cho riêng mình, nhưng luôn đòi hỏi sự chia sẻ, trao ban. Phaolô được tình yêu thúc bách (x. 2Cr 5,14) và ông muốn cho mọi người nhận biết tình yêu Chúa, nên ông không thể không rao giảng, “khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Phaolô ra đi với một niềm vui khôn tả (x. Pl 4,4), cùng một lòng biết ơn khôn xiết, ông nhận ra tất cả những gì ông có đều là ân ban của Chúa (x. 1Cr 15,10). Thế nên, ông không còn cậy dựa vào chính mình nữa nhưng hoàn toàn tin tưởng nơi Chúa ( x. Pl 4,13).

Có thể nói, nhờ gặp gỡ Đức Kitô, Phaolô đã “biến đổi cuộc đời mình” và “chân thành mình gặp mình”. Cũng vậy, mỗi tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) cần phải hết sức lưu tâm việc mặc lấy con người mới, để mang lấy tâm tình của Đức Kitô (x. Pl 2,5tt), và sẵn sàng đi trên con đường Người đã đi (x. HP 50). Hầu tiếp nối sự hiện diện của Đức Kitô và sứ mạng cứu chuộc của Ngài trên trần gian (x. HP 23), như là những chứng nhân Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa (x. HP 7) với trái tim tràn ngập niềm vui (x. HP 20). Nhưng để được vậy, mỗi tu sĩ cần phải có kinh nghiệm thiết thân với tình yêu của Đức Kitô, gặp gỡ Người một cách cá vị, đặc biệt trong đời sống cầu nguyện. Thiết nghĩ, nhà Tập là khoảng thời gian hồng ân để thực hiện điều đó.

Bước vào Tập Viện, là đi vào thời gian linh thánh, bước vào sa mạc cuộc đời mình, để tìm gặp Đấng đã yêu thương và chọn gọi chúng ta trước. Quả thật, trước đây hình ảnh Thiên Chúa đối với tôi là Đấng uy quyền, rất mực công chính, thưởng phạt rõ ràng, một Thiên Chúa của Cựu Ước, luôn dùng sức mạnh để lướt thắng kẻ chống đối, không vâng phục. Hình ảnh Thiên Chúa nơi tôi trở nên méo mó. Vì thế, khi đến với Ngài, tôi mang nơi mình sự sợ hãi hơn là vì yêu. Vì sợ nên tôi lẩn trốn, luồn lách. Tôi đến trong não trạng của một con buôn, xem việc đó chẳng khác gì mua hàng ở các máy tự động, bỏ ít tiền để nhận lại một thứ gì đó. Cũng thế, tôi mang tâm tình đó vào đời sống cầu nguyện: dành thời gian cho Chúa ắt phải được điều gì đó có lợi cho bản thân. Nếu những lời nguyện xin không được như ý mình, tôi tỏ thái độ buồn bực, khó chịu và chán nản, thất vọng với Chúa. Dĩ nhiên, từ đó tôi cũng cảm thấy khó chịu với người khác, cách riêng là những lời nhắc nhở đến từ anh em. Tôi cũng không kiên nhẫn với tha nhân, sẵn sàng khiển trách những sai phạm của họ cách không thương tiếc, dẫn đến các mối tương quan bị gãy đổ. Vì lúc đó lăng kính của tôi là sự hẹp hòi và ích kỷ của mình.

Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian kiên trì trong đời sống cầu nguyện bằng cách suy gẫm Lời Chúa, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, cùng với sự hướng dẫn và đồng hành của cha Giáo Tập, hình ảnh Thiên Chúa nơi tôi bắt đầu tỏ tường và rõ nét hơn. Vị Thiên Chúa đó không còn là Đấng ngự giá mây trời mà đến, không còn là Đấng không biết cảm thương những nỗi khốn khổ của con người. Nhưng là vị Thiên Chúa vì yêu mà đến làm người chấp nhận liên lụy, can dự vào lịch sử nhân loại và nơi chính cuộc đời tôi. Người sẵn sàng chịu những nỗi đau khổ vì tôi. Người đã không ngại nhảy xuống hố sâu bùn lầy hôi thối của tội lỗi để nâng tôi lên, cắt đứt sợi dây trói buộc bởi tội để tôi được tự do. Vì yêu, Người đã chấp nhận ôm lấy tội của tôi, đem lên cây thập giá, Người chết đi để tôi được sống. Đây là đỉnh cao của tình yêu.

Còn tôi, trước giờ vẫn luôn tự xem mình là trung tâm, nên đầy sự kiêu ngạo và hống hách, không ngần ngại xem Chúa là đầy tớ để điều khiển Người làm theo ý mình. Tuy nhiên, Chúa vẫn chấp nhận và tiếp tục kiên nhẫn với tôi. Khi nhận ra điều này, tôi đã không kìm nén được cảm xúc, mà chảy những giọt nước mắt của hối hận, nhận ra sự kiêu ngạo và con người đầy tội lỗi nơi mình. Đồng thời, những giọt nước mắt của hạnh phúc cũng tuôn trào khi tôi nhận ra tình yêu quá lớn lao của Chúa đã dành. Từ khoảnh khắc đó, vị trí trung tâm cuộc đời tôi là Chúa và lăng kính Tin Mừng tình yêu. Từ lúc đó, tôi thấy tâm hồn mình bình thản, tự do và biết ơn với những gì đã xảy ra trong quá khứ và đang diễn ra ở hiện tại. Tôi nhận ra tình yêu của Chúa và tình yêu của tha nhân ngang qua những lời góp ý. Đó là những điều mà trước đây tôi không cảm nhận được và cũng chẳng hay biết. Tôi dễ dàng đón nhận những sai lầm từ người khác với tâm tình cảm thông và góp ý trong bác ái huynh đệ. Bởi tôi biết, trước đây tôi cũng đã sai lầm nhưng Chúa chẳng trách phạt, ngược lại Ngài còn yêu thương tôi hơn khi tôi trở về.

Giờ đây, tôi mang lấy tâm tình của ông Gióp: “Trước kia con chỉ được biết về Chúa nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây chính mắt con chứng kiến” (G 42,5). Quả thật, tất cả là hồng ân nhưng không của Chúa. Chúng ta đừng ngại mở lòng mình ra để đón Chúa vào nhà mình, Ngài không phá đổ gì đâu. Nhưng Ngài sẽ giúp chúng ta sắp xếp lại cuộc đời, để ta trở nên vui tươi và tự do trong ân sủng. Chính tôi đã kinh nghiệm được điều này, hãy để Chúa làm trung tâm cuộc đời và nhìn mọi chuyện diễn ra trong cuộc sống bằng lăng kính quy Kitô. Từ đó, bóng tối của cô đơn, buồn bực, chán nản sẽ tan biến giống như lớp sương mù tan biến dưới ánh nắng mặt trời.

Tôi sẽ nhớ thương Tập Viện này mãi mãi,

Vì nơi đây Tôi đã cảm nghiệm được tình yêu.

Dẫu cho cuộc đời đầy yếu đuối lỗi lầm,

Nhưng sánh làm sao bằng tình yêu Chúa cao vời.

Học viện thánh Anphongsô