LM. Giuse Phạm Ðình Ái, S.S.S. chuyển ngữ
NẮM
TAY NHAU TRONG KINH LẠY CHA
Câu
hỏi: Ở một số nơi, người ta thường có thói quen là khi tham dự thánh lễ
thay vì trao chúc bình an khi phó tế kêu mời “Anh chị em hãy chúc bình an cho
nhau” thì họ lại nắm lấy tay nhau đang khi hát Kinh Lạy Cha. Thực hành này có
được chấp nhận hay không?
Trả
lời: Việc nắm tay nhau kéo dài tự nó là một dấu hiệu của sự hiệp thông
hơn là dấu hiệu trao bình an. Hơn nữa, đây là một cử chỉ phụng vụ được đem vào
phụng vụ một cách tự tiện theo sáng kiến cá nhân chứ không phải theo hướng dẫn
của chữ đỏ. Cũng không có bất kỳ lời giải thích rõ ràng nào về lý do tại sao dấu
hiệu trao chúc bình an khi có lời mời: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau” lại
phải thay thế để rồi mang một cử chỉ khác vốn kém ý nghĩa hơn vào trong một phần
khác của thánh lễ: dấu hiệu bình an chứa đầy ý nghĩa, là sự ân cần tử tế và
mang cảm hứng Kitô giáo. Phải loại bỏ bất cứ sự thay thế nào cho dấu hiệu bình
an này (Notitiae 11 [1975] 226).
HÁT
VINH TỤNG CA
Câu
hỏi: Rõ ràng là có những thực hành khác hẳn nhau trong việc đọc hay
hát Vinh Tụng Ca kết thúc Kinh Nguyện Thánh Thể: (a) Ðôi khi chỉ một mình chủ tế
đọc hoặc hát Vinh Tụng Ca. (b) Hoặc thường xuyên hơn, tất cả các linh mục đồng
tế cùng đọc hoặc hát Vinh Tụng Ca. (c) Ở một số nơi, toàn thể cộng đoàn đọc hoặc
hát Vinh Tụng Ca. Vậy phải tuân theo quy tắc nào?
Trả
lời: Trong bất kỳ một cuộc họp mặt nào, thông thường, việc khai mở và
kết thúc thuộc quyền của vị chủ tọa. Trong trường hợp cử hành Thánh Thể, rõ
ràng, phần chính yếu của toàn bộ cử hành thánh lễ chính là Kinh Nguyện Thánh Thể
vốn bao gồm từ Kinh Tiền Tụng cho đến Vinh Tụng Ca kết thúc “Chính nhờ Người, với
Người và trong Người mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa, là Cha toàn
năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời”. Do đó, vị chủ tế sẽ
là người khai mở Kinh Nguyện Thánh Thể này bằng Kinh Tiền Tụng; tiếp theo, toàn
thể cộng đoàn cùng nhau đọc hoặc hát kinh Sanctus (Thánh! Thánh! Chí Thánh!);
sau đó, chỉ một mình chủ tế đọc [Kinh Nguyện Thánh Thể II]: “Lạy Chúa, Chúa thực
sự là Ðấng Thánh…” (hoặc bản văn song song trong các Kinh Nguyện Thánh Thể
khác). Tới phần Vinh Tụng Ca kết thúc, chúng ta ghi nhận ba trường hợp được yêu
cầu sau đây: (a) Chủ tế là người có quyền khai mở Kinh Nguyện Thánh Thể thì
cũng kết thúc Kinh nguyện này bằng cách [đọc / hát] Vinh Tụng Ca cuối cùng.
Chính xác, đây là những gì mà QCSL [1975] số 191 chỉ ra: “Lời kết thúc Kinh
Nguyện Thánh Thể sẽ do (a) một mình chủ tế đọc, hoặc do (b) tất cả các vị đồng
tế cùng đọc với ngài”. Trường hợp thứ hai (b) được áp một cách phổ biến vì hầu
như mọi nơi, các linh mục đồng tế đã nhanh chóng chấp nhận việc đọc hoặc hát
Vinh Tụng Ca kết thúc này cùng với nhau. Không giống như hai trường hợp trước
[(a) + (b)], việc toàn thể cộng đoàn cùng đọc hay hát Vinh Tụng Ca kết thúc
Kinh Nguyện Thánh Thể chung với nhau là một sự nới rộng bất hợp pháp không chỉ
từ quan điểm kỷ luật - vì đi ngược lại các quy tắc hiện hành - mà ở mức độ sâu
xa hơn, nó mâu thuẫn với bản chất của các thừa tác viên và các bản văn. Mặc dù
ai đó giải thích phần mở rộng này có thể áp dụng cho toàn thể cộng đoàn phụng vụ
như là một dấu hiệu mong muốn tăng cường sự tham gia của mọi người vào cử hành
phụng vụ. Tuy nhiên, điều cần thiết là mong muốn này phải được thực hiện một
cách có trật tự và xác thực. Có những điều xem ra như thể là sự tiến bộ nhưng
thực sự lại là bước thụt lùi: vì rằng, ở đây, người ta đã quên đi phần vụ thuộc
về mỗi cá nhân trong nghi thức phụng vụ. Hãy xem lại Hiến chế Phụng vụ Thánh số
28: “Là thừa tác viên hay là tín hữu, trong các việc cử hành phụng vụ, mỗi người
khi chu toàn phận vụ, chỉ thi hành trọn những gì thuộc lãnh vực mình tùy theo bản
chất sự việc và những quy tắc phụng vụ”. Trong trường hợp thứ ba (c), điều thường
xảy ra là “Amen” cuối cùng được nói hoặc hát không phải bởi một người. Ngược lại,
như các hướng dẫn được đưa ra trong Nghi thức Thánh lễ [1975] (các số 100, 108,
115, 124, “Dân chúng đáp: ‘Amen’”), sau Vinh Tụng Ca, chúng ta có thể nhấn mạnh
hơn lời đáp Amen này bằng cách tất cả mọi người cất lên bản dệt nhạc cho lời
Amen một cách công phu trau truốt hơn nhằm tạo ra sức mạnh và sự trang trọng
cho lời tung hô này (ví dụ, tất cả mọi người sẽ hát ba lần “Amen” trong Thánh lễ
do Ðức Giáo Hoàng cử hành hoặc hát “Amen” cách đơn giản hơn như trong Sách lễ
1974 của Pháp, trang 103) (Notitiae 14 [1978] 304-305, số 7).
Cập
nhật: Cuối Kinh
Nguyện Thánh Thể (Kinh Tạ Ơn), linh mục cầm đĩa có bánh thánh và chén thánh, rồi
nâng cả hai lên và đọc lời Vinh Tụng Ca một mình: “Chính nhờ Người…”. Ðến cuối,
cộng đoàn tung hô: “Amen”. Ðoạn linh mục đặt đĩa thánh và chén thánh trên khăn
thánh (QCSL [2002], số 151). Vinh
Tụng Ca kết thúc Kinh Nguyện Thánh Thể (Kinh Tạ Ơn) chỉ được đọc bởi vị chủ tế
chính, và nếu muốn, các vị đồng tế có thể cùng đọc với ngài, còn tín hữu thì
không được đọc theo (QCSL [2002], số 236).
ÐÂY
LÀ MẦU NHIỆM ÐỨC TIN
Câu
hỏi: Khi không có tín hữu nào hiện diện tại thánh lễ để có thể thực hiện
lời tung hô sau truyền phép (Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và
tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến), linh mục có nên xướng đọc câu:
“Ðây là mầu nhiệm đức tin” không?
Trả
lời: Không. Cụm từ “mầu nhiệm đức tin”, vốn đã được lấy ra khỏi bối cảnh
những lời riêng của Chúa Kitô và được đặt sau phần truyền phép “phục vụ như là
một câu dẫn đến lời tung hô” (Ap. Const. “Missale Romanum”). Nhưng khi không có
tín hữu nào hiện diện để có thể đáp lại lời tung hô, thì linh mục không cần đọc
câu: “Ðây là mầu nhiệm đức tin” nữa. Trường hợp này cũng giống như một thánh lễ,
do nhu cầu nghiêm trọng, được cử hành mà không có bất kỳ người giúp lễ nào, thì
chủ tế sẽ không đọc các lời chào chúc và không ban phép lành vào cuối thánh lễ
(QCSL [1970] số 211). Câu trả lời tương tự cũng áp dụng cho thánh lễ đồng tế mà
tại đó không có tín hữu nào hiện diện (Notitiae 5 [1969] 324-325, no. 3.
229).
Cập nhật: “Nếu không có lý do chính đáng và hợp lý, thì không được cử hành thánh lễ mà không có người giúp, hoặc ít là một tín hữu nào đó. Trong trường hợp này, thì bỏ các lời chào, lời bảo và phép lành cuối lễ” (QCSL [2002] số 254).


