
LM. J.B. Lê Ngọc
Dũng, GP. Nha Trang
Đôi khi có những thắc mắc liên quan đến vị tân Giám mục giáo phận:
Khi một linh mục được Đức Giáo hoàng bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận, thì ngài:
- Là Giám mục giáo phận hay chưa?
- Đã có quyền tài phán trên Giáo phận mà ngài được bổ nhiệm hay chưa?
- Tên của ngài đã được nêu trong kinh nguyện Thánh thể hay
chưa? Trước tiên cần phân biệt "chức thánh" Giám mục, linh mục, phó tế
với "chức vụ" trong Giáo hội (officium ecclesiasticum) mà các vị ấy đảm
nhiệm.
Đôi khi có những
thắc mắc liên quan đến vị tân Giám mục giáo phận: Khi một linh mục được Đức
Giáo hoàng bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận, thì ngài:
- Là Giám mục
giáo phận hay chưa?
- Đã có quyền
tài phán trên Giáo phận mà ngài được bổ nhiệm hay chưa?
- Tên của
ngài đã được nêu trong kinh nguyện Thánh thể hay chưa? Trước tiên cần phân biệt "chức
thánh" Giám mục, linh mục, phó tế với "chức vụ" trong Giáo hội (officium
ecclesiasticum) mà các vị ấy đảm nhiệm. Đối với Giáo hội địa phương là một giáo phận, Đức Giáo hoàng ra
Tông sắc bổ nhiệm một linh mục, với "chức vụ", hoặc:
- Giám mục
giáo phận;
- Giám mục
phó;
- Giám mục phụ
tá.
Khi mới ra
Tông sắc bổ nhiệm một linh mục làm Giám mục giáo phận mà thôi thì:
a. Linh mục đó
chưa có "chức thánh" Giám mục và cũng chưa nhận "chức vụ" Giám
mục giáo phận, hay Giám mục phó, Giám mục phụ tá;
b. Ngài chưa có
quyền lãnh đạo hay tài phán trên giáo phận;
c. Tên của ngài
chưa thể nêu trong kinh nguyện Thánh Thể.
Xin lý giải
như sau:
1. Chưa là Giám
mục, chưa là Giám mục giáo phận
Tiến chức
Giám mục phải được tấn phong Giám mục thì mới có chức Thánh Giám mục. Điều này
thì khá rõ.
Còn việc thi
hành quyền lãnh đạo hay tài phán, Giáo luật quy định là không được thi hành chức
vụ trước khi đảm nhận giáo phận, nghĩa là trước khi nhậm chức:
Điều
382
§l.
Giám mục được tiến chức không được xen vào việc thi hành chức vụ đã được trao
phó trước khi đảm nhận giáo phận theo Giáo luật; tuy nhiên, ngài có thể thi
hành các chức vụ ngài đã giữ trong giáo phận đó trước khi được tiến chức, miễn
là vẫn tôn trọng những quy định của điều 409§2.
Điều 382§l,
tuy không có quy định là "vô hiệu" nếu tiến chức "xen vào việc
thi hành chức vụ", nhưng nếu tìm hiểu những quy tắc luật khác, thì
sẽ thấy việc thi hành chức vụ ấy là vô hiệu. Và như vậy, khi chưa nhậm chức thì
tiến chức Giám mục giáo phận (Episcopus dioecesanus) chưa có quyền lãnh
đạo hay quyền tài phán trên giáo phận.
Có thể căn cứ
vào những điều như sau:
- Nhậm chức
là điều cần thiết để có chức vụ hữu hiệu hay thành sự;
- Mặc dù đã
được Đức Giáo hoàng bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận nhưng nếu Tòa chưa khuyết vị
thì chức vụ Giám mục giáo phận đó chưa hữu hiệu.
Hai điều trên
được luật quy định như dưới đây.
a. Nhậm chức là
cần thiết để có chức vụ thành sự
Việc nhậm chức
là rất cần thiết để "trở thành" Giám mục giáo phận hay Giám mục phó.
Vì lẽ, nếu Giám mục phó mà đã không nhậm chức hợp lệ thì ngài không thể trở
thành Giám mục phó và rồi sau đó cũng không trở thành Giám mục giáo phận khi
Tòa Giám mục khuyết vị, theo như quy định của điều 409§1.
Điều
409
§1.
Khi toà Giám mục khuyết vị, Giám mục phó tức khắc trở thành Giám mục của giáo
phận vì đó mà ngài đã được đặt lên, miễn là ngài đã nhậm chức hợp luật.
b. Chưa là Giám
mục giáo phận khi tòa chưa khuyết vị
Sự nhận chức
Giám mục giáo phận sẽ bị vô hiệu nếu tòa chưa khuyết vị:
Điều
153
§1.
Việc trao ban một chức vụ mà không khuyết vị theo luật thì vô hiệu do chính sự
kiện, và không trở thành hữu hiệu do sự khuyết vị sau đó.
Hãy thử xét một
trường hợp cụ thể: Đức Giáo hoàng ban Tông sắc thuyên chuyển một Giám mục giáo
phận A đến giáo phận B, và bổ nhiệm một linh mục làm tân Giám mục giáo phận cho
giáo phận A.
Khi Giám mục
giáo phận A chưa "nhận chức" ở giáo phận B do thuyên chuyển, thì tòa
A "chưa bị khuyết vị". Tòa chỉ bị "khuyết vị" khi vị Giám mục
A nhậm chức ở giáo phận mới B. Và vì tòa chưa khuyết vị nên vị tân chức chưa là
Giám mục giáo phận, căn cứ theo điều 418§1 quy định:
Điều
418
§1.
Trong vòng hai tháng kể từ khi nhận được tin chắc chắn về sự thuyên chuyển,
Giám mục phải đến giáo phận mà ngài được sai đến và nhận chức theo Giáo luật;
và kể từ ngày ngài nhận chức trong giáo phận mới, giáo phận cũ của ngài trở
thành khuyết vị.
Mà khi Tòa
chưa khuyết vị thì sự trao ban hay bổ nhiệm một chức vụ vào Tòa đó sẽ không hữu
hiệu, căn cứ vào điều 153§1 kể trên.
Trường hợp
này chứng tỏ rằng, khi Tông sắc được ban ra, nó không hữu hiệu tức thời, nghĩa
là linh mục được tiến chức Giám mục giáo phận không tức khắc trở thành Giám mục
giáo phận.
Rõ ràng là khi giáo phận chưa khuyết vị thì làm sao tiến chức, có thể là Giám mục
giáo phận với quyền lãnh đạo hay tài phán hữu hiệu ở giáo phận đó được.
c. Chưa là
Giám mục giáo phận ngay cả khi tòa khuyết vị
Thử xét đến
trường hợp khi giáo phận trống tòa do Giám mục đã về hưu và giáo phận đang được
lãnh đạo tạm thời bởi Giám quản giáo phận hoặc Giám quản Tông tòa.
Khi Đức Giáo
hoàng ban Tông sắc bổ nhiệm một Giám mục giáo phận mới từ một vị đã có chức
Giám mục hoặc một vị linh mục, vị tân cử đó có ngay chức vụ (officio)
Giám mục giáo phận (Episcopus dioecesanus) và hành quyền được
không?
Không được,
vì lý do:
- Khi Tông sắc
bổ nhiệm vị Giám mục giáo phận (Episcopus dioecesanus) mới được ban ra,
chức vụ Giám quản giáo phận hoặc Giám quản Tông tòa vẫn còn đó chứ không bị chấm
dứt tức khắc do bởi sự kiện (ipso facto) Tông sắc được ban ra.
Ví dụ, khi
Tòa Thánh công bố Tông sắc Đức Giáo hoàng bổ nhiệm cha Giuse Huỳnh Văn Sỹ làm
Giám mục giáo phận Nha Trang vào ngày 1-5-2023, Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn
Chí Linh không tức khắc chấm
dứt chức Giám quản Giáo phận Nha Trang.
Đức Tổng Giám
mục Giuse vẫn tiếp tục lãnh đạo giáo phận cho đến ngày cha Giuse Huỳnh Văn Sỹ nhậm
chức Giám mục giáo phận (Episcopus dioecesesanus), chiếu theo quy tắc
Giáo luật:
Đ.
430§1. Nhiệm vụ Giám Quản Giáo Phận chấm dứt khi tân Giám Mục nhậm chức
trong Giáo Phận.
Khi chưa nhậm
chức Giám mục giáo phận, cha Giuse Huỳnh Văn Sỹ được mang danh hiệu,
nhưng chưa thể hành quyền cách hữu hiệu. Ví dụ, ngài chưa thể bổ nhiệm một cha
sở cách hữu hiệu.
d. Giá trị Tông
sắc
Phản biện có
thể cho rằng:
Vậy Tông sắc
của Đức Giáo hoàng lại không có giá trị hay sao?
- Tông sắc của
Đức Giáo hoàng tất nhiên là có giá trị (valide) hoàn toàn, nhưng hiệu lực
(effetto) của Tông sắc lại còn tùy thuộc những nguyên tắc luật hay những
điều kiện khác. Ở đây cần phân biệt "giá trị" và "hiệu lực"
của Tông sắc.
Có những trường
hợp cho thấy rõ ràng là có sự "bổ nhiệm" trước, rồi "hiệu lực"
đến sau, kể từ ngày chức vụ bị khuyết vị.
Điều
153
§2.
Tuy nhiên, nếu là một chức vụ, chiếu theo luật, được trao ban
(conferito) trong một thời gian nhất định, thì việc trao ban có thể được
thực hiện trong vòng sáu tháng trước khi hết hạn, và có hiệu lực (effetto) kể từ
ngày chức vụ khuyết vị.
Trường hợp
"bổ nhiệm" trước, rồi "hiệu lực" đến sau cũng tương tự như
hiệu lực của bộ luật. Bộ Giáo luật được thiết lập (istituita) khi được
công bố trên Công báo của Tòa Thánh (Acta Apostolicae Sedis), nhưng chỉ
có hiệu lực (in vigore) sau ba tháng kể từ ngày được công bố trên Công
báo. Còn luật địa phương thì chỉ hiệu lực sau khi công bố được một tháng (đ.
8).
Hơn nữa, có
thể kể vài điều kiện liên quan đến sự hữu hiệu như:
Chức vụ Giám
mục giáo phận sẽ vô hiệu nếu chức thánh linh mục của tiến chức là vô hiệu, do
giả mạo hoặc linh mục ấy chưa được Rửa tội. Nên biết: Hành vi pháp lý hễ bị vô
hiệu theo luật thì cho dù do sự lầm lẫn hay không biết, hành vi ấy vẫn là vô hiệu
(đ.15§1).
Chức vụ Giám mục giáo phận cũng sẽ vô hiệu, nếu tiến chức đã lãnh nhận vô hiệu
chức thánh phó tế hay chức thánh linh mục. Ví dụ, được truyền chức linh mục bởi
một vị tưởng là Giám mục mà thực sự là không có chức thánh Giám mục.
e. Ý kiến của
các nhà chú giải
Sau cùng, các
nhà chú giải Giáo luật cũng đồng ý khẳng định rằng, khi chưa nhận quyền
theo Giáo luật, vị tiến chức chưa là Giám mục giáo phận, và nếu vị đó có
thi hành quyền lãnh đạo của một Giám mục giáo phận thì việc thi hành ấy cũng vô
hiệu. Nhà chú giải S. Sipos trong quyển Bách khoa tự điển Giáo luật giải thích
rằng, để có thể thực hiện quyền tài phán cách hữu hiệu (valide), cần phải
có sự nhận chức trước (ut iurisdictio per institutionem canonicam iam
obtenta excercere valide possit, nessaria est introdutio in possessionem, quae
est verbali set realis), (S. SIPOS, Enchiridion iuris canonici,
§50, 205. Cf. F.X. WERNZ - P VIDAL, Ius Canonicum, n 597, 629).
2.
Nêu danh tiến chức Giám mục trong Kinh nguyện Thánh Thể
a. Có thể được
theo Quy chế Sách Lễ Roma cũ
Trong quyển Nghi
thức của các Giám mục (Cerimoniale dei Vescovi) có quy định:
1147.
Dal giorno della presa di possesso del vescovo, tutti i sacerdoti che celebrano
la messa nella sua diocesi, anche nelle chiese e negli oratori degli
esenti, devono inserire il suo nome nella preghiera
eucaristica.
1147. Kể
từ ngày nhận chức của Giám mục, tất cả các linh mục cử hành thánh lễ trong giáo
phận của ngài, ngay cả trong các nhà thờ và nhà nguyện của những dòng miễn trừ,
đều phải nêu tên ngài trong kinh nguyện Thánh Thể.
Phải chăng chỉ
nêu tên Giám mục sau khi ngài đã nhậm chức, căn cứ vào chính quy định của số
1147 này?
Cần phân biệt,
đây là quy định đòi "phải" (devono), chứ không là quy định
"cấm". Quy định 1147 đòi "phải" nêu tên khi ngài đã nhậm chức,
nhưng không cấm nêu tên khi ngài chưa nhậm chức.
Sách lễ Roma,
trong kinh nguyện Thánh Thể II, ở phần cầu nguyện cho các Giám mục cũng có ghi
chú: "Có thể nêu tên Giám mục phó và Phụ tá hay Giám mục khác như Quy
chế Sách Lễ Roma, số 149 ghi chú".
Chiếu theo
Quy chế Sách Lễ Roma nói trên, với cụm từ "hay Giám mục
khác" được hiểu rộng ra với tinh thần hiệp thông cầu nguyện, có
thể nêu tên vị Giám mục tân cử, trong kinh nguyện Thánh Thể II.
b. Không thể được
theo Quy chế Sách Lễ Roma mới
Tuy nhiên,
Quy chế Sách Lễ Roma, số 149, phiên bản mới 2008 có thay đổi, bỏ cụm từ "hay
Giám mục khác". Điều này có ý giới hạn, chỉ nêu tên các Giám mục đang
cai quản hoặc đang giúp cai quản Giáo phận (Giám mục phó, Giám mục phụ tá). Khi
có một số vị Giám mục được nếu danh thì đọc với công thức chung: ... Giám
mục chúng con và các Giám mục phụ giúp (N., our Bishop and his
assistant Bishops). Vì vậy, không thể hiểu rộng ra để nêu danh
vị Giám mục tân cử mà chưa được nhậm chức, chưa thực hiện hay phụ giúp trong việc
cai quản Giáo hội. Xin trích dẫn Quy chế Sách Lễ Roma, số 149, phiên bản mới
2008:
149.
The Priest continues the Eucharistic Prayer in accordance with the rubrics that
are set out in each of the Prayers. If the celebrant is a Bishop, in the Prayers, after the
words N., our Pope, he adds, and me, your unworthy servant. If,
however, the Bishop is celebrating outside his own diocese, after the words
with ... N., our Pope, he adds, my brother N., the Bishop of this
Church, and me, your unworthy servant; or after the words especially ...
N., our Pope, he adds, my brother N., the Bishop of this Church, and me,
your unworthy servant.
The Diocesan Bishop, or one who is equivalent to the Diocesan Bishop in law,
must be mentioned by means of this formula: together with your servant N.,
our Pope, and N., our Bishop (or Vicar, Prelate, Prefect, Abbot). It is
permitted to mention Coadjutor Bishop and Auxiliary Bishops in the Eucharistic
Prayer, but not other Bishops who happen to be present. When several are to be
mentioned, this is done with the collective formula: N., our Bishop and
his assistant Bishops. In
each of the Eucharistic Prayers, these formulas are to be adapted according to
the requirements of grammar.
-------------------------------------------
Giải
đáp thắc mắc
Câu hỏi 1:
Khi mới nhận tín về sự thuyên chuyển và chưa nhận chức ở giáo phận mới
thì tòa cũ đã khuyết vị hay chưa, Giám mục còn là Giám mục giáo phận cũ hay
không?
Đáp:
- Tòa vẫn chưa khuyết vị, nhưng vị ấy hết quyền Giám mục giáo phận.
Điều 418 có
quy định:
§1.
Trong vòng hai tháng kể từ khi nhận được tin chắc chắn về sự thuyên chuyển,
Giám Mục phải đến Giáo Phận mà ngài được sai đến và nhậm chức theo Giáo luật;
và kể từ ngày ngài nhậm chức trong Giáo Phận mới, Giáo Phận cũ của ngài trở
thành khuyết vị.
§2. Từ khi nhận được tin chắc chắn về sự thuyên chuyển cho tới khi nhậm chức
theo Giáo luật tại Giáo Phận mới, thì trong Giáo Phận cũ, Giám Mục được thuyên
chuyển:
10 Có quyền và có các nghĩa vụ tương đương như Giám Quản
Giáo Phận; mọi quyền bính của Tổng Đại Diện và Đại Diện Giám Mục chấm dứt,
miễn là vẫn giữ nguyên điều 409 §2.
20 Được hưởng trọn vẹn khoản thù lao dành cho giáo vụ.
Về
Tòa: Căn cứ vào triệt 1, Tòa cũ chưa khuyết vị khi Giám mục
đó chưa nhận chức ở Tòa mới.
Hệ quả là:
- Nếu Tòa cũ
có Giám mục phó thì cũng chưa thể kế vị. Chỉ được kế vị khi Giám mục chính nhận
chức ở Tòa mới.
- Nếu có vị
nào được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận cho tòa cũ thì phải đợi
cho đến lúc trống tòa thì mới nhận chức (nhận Tòa) được, nghĩa là, lúc mà Giám
mục thuyên chuyển nhận chức ở Tòa mới.
Về
quyền: Căn cứ vào triệt 2, 10, trong Giáo Phận cũ, Giám Mục được
thuyên chuyển, có quyền và có các nghĩa vụ tương đương như Giám quản Giáo
phận chứ không như Giám mục giáo phận.
Có một điều cần
phân biệt ở đây, đối với trường hợp thuyên chuyển: Trong giai đoạn chờ đợi nhận
chức giám mục giáo phận ở Tòa mới, Giám mục được thuyên chuyển chỉ giữ quyền và
có nghĩa vụ tương đương với Giám quản Giáo phận, các vị Tổng đại diện, Đại
diện Giám mục hết quyền, nhưng Tòa lại chưa trở thành khuyết vị, theo như
triệt 1 đã quy định.
Nó khác với trường hợp Tòa bị khuyết vị, khi Ban tư vấn bầu lên một vị Giám quản
Giáo phận (đ. 421) để cai quản tạm thời giáo phận, thì Tòa vẫn tiếp tục khuyết
vị.
LM. J.B. Lê Ngọc
Dũng, GP. Nha Trang
Câu hỏi 2:
Khi nào xướng tên Đức Giám mục giáo phận trong Kinh
nguyện Thánh Thể?
Đáp:
Để xác định chính xác thời điểm
xướng tên Đức Giám mục giáo phận tân cử trong Kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta cần xem xét chức Giám mục trong khung cảnh
và phạm trù như sau:
1. Khung cảnh
ngoài phụng vụ
Khi có văn thư của Tòa Thánh bổ nhiệm một linh mục làm Giám mục (GL 1013) và khi văn thư ấy được
thông tri tới đương sự, thì văn thư có hiệu lực. Ngay tức khắc sau đó, trong khung cảnh ngoài phụng vụ,
ngài có thể được gọi là Đức cha/Đức Giám mục như một danh hiệu ngoài phụng vụ. Nhưng
vì ngài chưa phải là một Giám mục được tấn phong qua nghi thức truyền chức, nghĩa là
ngài vẫn còn là linh mục theo nghĩa bí tích, nên chưa thể được nêu tên trong Kinh nguyện Thánh Thể cũng như chưa cử hành phụng vụ trong tư cách Giám mục với những gì dành riêng cho thánh chức Giám mục.
Điều này cũng gần giống như trường hợp một linh mục giám quản giáo phận do hội đồng tư vấn giáo phận bầu lên hoặc do Đức Tổng Giám mục giáo tỉnh chỉ định [trong trường hợp qua 8 ngày mà vẫn chưa bầu xong] (GL 421) để điều hành tạm thời cho đến khi có một Đức
Giám mục khác được bổ nhiệm cai quản giáo phận. Vì ngài là linh mục, nên không nêu
tên ngài trong Kinh nguyện Thánh Thể. Nguyên danh hiệu giám quản không phải là danh hiệu phụng vụ
và không thuộc về phạm trù nguyên lý hiệp thông như thánh chức Giám mục [cùng với
Bí tích Thánh Thể].[1] Chính vì vậy, việc xướng
tên Đức Giám mục tân cử [trong khung cảnh phụng vụ, tức trong Kinh nguyện Thánh Thể] ngay sau khi có
thông báo bổ nhiệm của Tông tòa là nhầm
lẫn nếu như Đức Giám mục tân cử vẫn còn là linh mục chưa được tấn phong Giám mục.
2. Khung cảnh phụng vụ và quyền tài phán
Đối với các linh mục được bổ nhiệm làm Giám mục phó hay Giám mục phụ tá, sau khi được tấn
phong Giám mục (LNGM 563-597) và tựu chức/nhậm chức (GL 404), tên ngài mới có thể được
nêu trong Kinh nguyện Thánh Thể tại các nhà thờ/nhà nguyện thuộc giáo phận mà ngài được chỉ định
phục vụ (x. Notitiae 45 (2009) 308-320). Nếu ngài đã là Giám mục rồi, tên ngài có thể
được nêu trong KNTT kể từ ngày nhậm chức (GL 404). Bấy giờ, tại giáo phận cũ [nếu
có] của ngài, mới ngưng nêu tên ngài trong Kinh nguyện Thánh Thể.[2]
Đối với Đức Giám mục giáo phận, theo sách Lễ nghi Giám mục
số 1147: "Từ
ngày Đức Giám mục nhận giáo phận, tên của ngài được đề cập trong KNTT bởi các
tư tế cử hành thánh lễ trong giáo phận..." Vì vậy, xướng tên Đức Giám
mục tân cử ngay sau khi có thông báo bổ nhiệm của Tông tòa là nhầm lẫn nếu như Đức Giám mục tân cử chưa được
tấn phong và chưa tựu chức/nhậm chức (GL 382).
Điều này cũng
được áp dụng đối với vị Giám mục được đặt làm Giám quản Tông tòa, tức là tên của ngài
được
đề cập trong Kinh nguyện Thánh Thể bởi các tư tế cử hành thánh lễ trong giáo phận từ ngày ngài
nhậm chức, trừ ra trường hợp Giám quản Tông tòa cũng
chính là Giám mục chính tòa trước đó mà nay được bổ nhiệm đến coi sóc một GP khác.
Tuy nhiên, tên của ngài (Giám mục Giám quản) chỉ được nêu trong Kinh nguyện Thánh Thể
cho đến khi một Đức Giám mục khác được bổ nhiệm về cai quản địa phận qua nghi lễ
tựu chức/nhậm chức theo đòi hỏi của Bộ
Giáo luật số 382.[3] Điều
này có nghĩa là dù Tòa Thánh đã công bố danh tánh của vị tân Giám mục và đã có
văn thư của Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm Giám mục chính tòa coi sóc giáo phận,
nhưng tư tế trong giáo phận vẫn chỉ nêu tên Đức Giám mục giám quản chứ không
nêu tên vị tân Giám mục chính tòa này cho tới ngày ngài được phong chức Giám mục
(nếu chưa chịu chức) và chính thức tựu chức/nhậm chức vì theo Giáo luật điều 430 §1, nhiệm vụ Giám quản giáo phận chỉ chấm
dứt khi vị tân GM nhậm chức trong giáo phận (tuy nhiên,
không được đọc các danh hiệu khác biệt nếu có của Đức cha giám quản như Tổng
Giám mục, Hồng y Tổng Giám mục hay Giám quản Tông toà). Lý do được nêu đích
danh trong Kinh nguyện Thánh Thể không phải vì ngài làm giám quản nhưng vì ngài
là Giám mục giám quản.[4]
Ở một mức độ nào đó, ngài cũng tương tự như vị Giám mục giáo phận, cho nên công
thức trong Kinh nguyện Thánh Thể không cần thay đổi (vẫn đọc “Đức Giám mục T. chúng con…”). Với thánh chức Giám mục mà ngài đã lãnh nhận trong ngày phong chức, ngài lãnh
nhận sự sung mãn của Bí tích Truyền chức (primatus sacerdotii), trở
nên người kế vị các Tông đồ để chăn dắt Giáo Hội Chúa cũng như thuộc về phạm trù nguyên lý hiệp thông của Giáo Hội địa phương [bên cạnh Bí tích Thánh Thể] trong vai trò Giám mục
giám quản. Tác giả Susan K. Wood nhắc lại rằng,
theo Công đồng
Vatican II, hai điều cần thiết cho một Giáo Hội đặc thù là Thánh Thể và Giám mục.
Một Giáo Hội đặc thù cốt yếu là một cộng đoàn bàn thờ (thờ phượng, altar) quanh
vị Giám mục của mình.[5]
LM. Giuse Phạm Đình Ái, S.S.S.
[1] x. Giáo
Luật số 419; 421#1; LG, số 20; 21; Bộ Giáo lý Đức tin, “Giáo hội như là hiệp thông” (ngày 28 tháng 5 năm 1992), số 14.
[2] Nếu có nhiều GM phụ tá của một GP, nên đọc theo một công thức chung: “Ðức Giám mục
T. giáo phận chúng con và các Đức Giám mục cộng tác với ngài” (et Episcopo nostro
N. eiusque Episcopis adiutoribus). Nghĩa là không nêu từng tên ĐGM riêng biệt vì có những giáo
phận số GM phụ tá lên đến 3,4,5 vị.
[3] x. Bộ Phụng tự,
Sắc lệnh Cum
de nomine (AAS 64 [1972], 692-694.
[4]
Cũng như nghi thức khai tâm trong 3 thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh Tây Phương,
việc đặt tay trao ban Thần Khí trên người được rửa tội cũng như trên hối nhân,
để họ được hội nhập vào đời sống Hội Thánh, thì trong cả hai trường hợp, chỉ có
Đức Giám mục mới là người đặt tay trên ứng viên, vì ngài là dấu chỉ hữu hình của
sự hiệp thông trong Hội Thánh. Ở đây, Hội Thánh Latinh duy trì nguyên tắc: Đức
Giám mục là dấu chỉ sự hiệp nhất trong Hội Thánh, nên việc trao ban Thần Khí được
dành riêng cho ngài (H. Bourgeois, L’avenir
de la confirmation (Lyon: Éd. Chalet, 1972), 66-69).
[5] x. Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium (=LG), số 20-23; Bộ Giáo lý Đức tin, “Giáo hội như là hiệp thông”, số 14; Susan K. Wood, “The Church as Communion” trong Peter C. Phan (ed), The Gift of the Chuch (Collegeville, Minnesota: A Pueblo / The Liturgical Press, 2000), 159-176.

