
Từ điển Công giáo của Uỷ ban
Giáo lý Đức tin – HĐGM.VN (2016), 801-802.
THÁNH LỄ ĐẠI TRIỀU
Missa PontifIcalis, Pontifical Mass, Messe Pontiticale, 主 教 彌 饊 (chủ giáo di tán)
Thánh Lễ (聖 禮): nghi thức dành cho thần linh. Đại triều (大 朝): tham bái thần
linh cách trọng thể.
Thánh Lễ đại triều là Thánh Lễ do Giám mục giáo phận chủ sự, với mũ mitra
và gậy, nhất là khi cử hành tại nhà thờ chính toà, giữa linh mục đoàn và các thừa
tác viên, cùng với sự tham dự của dân thánh.
Thánh Lễ đại triều biểu thị tính duy nhất của Hội Thánh địa phương cùng
với tính đa dạng của các thừa tác vụ chung quanh Giám mục.
Thánh Lễ đại triều phải là lễ hát, được tổ chức trong những ngày lễ trọng
nhất của năm phụng vụ, trong lễ Truyền Dầu, lễ chiều Tiệc Ly, lễ kính vị Thánh sáng
lập Hội Thánh địa phương hay bổn mạng của giáo phận, các cuộc thăm viếng mục vụ,
v.v. (x. NTGM, 119-121).
Bộ Giáo luật
1983:
Điều 390
GIÁM MỤC GIÁO PHẬN có thể cử hành NGHI LỄ ĐẠI TRIỀU trong
TOÀN GIÁO PHẬN CỦA NGÀI, nhưng ngoài giáo phận riêng thì không được, nếu không
có sự đồng ý minh nhiên hoặc ít là được suy đoán cách hợp lý của Đấng Bản Quyền
địa phương.
Điều 408
§1. Mỗi khi được Giám mục giao phận yêu cầu, và nếu không
bị ngăn trở chính đáng, Giám mục phó và Giám mục phụ tá buộc phải cử hành các NGHI
LỄ ĐẠI TRIỀU và các nghi lễ khác thuộc bổn phận của Giám mục giáo phận.
Sách Lễ nghi Giám mục (Caeremoniale Episcoporum)
119. Hội Thánh địa phương được biểu
hiện cách riêng khi Giám mục, với tư cách là Thượng Tế của đoàn chiên Ngài,
cử hành Thánh Thể,
nhất là tại nhà thờ chính toà, giữa linh mục đoàn và các tá
viên, cùng với sự tham dự đầy đủ và chủ động của toàn thể dân thánh Chúa.
THÁNH LỄ ĐÓ GỌI LÀ THÁNH LỄ “ĐẠI TRIỀU”,
BIỂU THỊ TÍNH DUY NHẤT CỦA HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG CÙNG VỚI TÍNH ĐA DẠNG CỦA CÁC
THỪA TÁC VỤ CHUNG QUANH GIÁM MỤC VÀ THÁNH THỂ.
Dó đó, cần tập họp thật đông tín hữu, các linh
mục đồng tế với Giám mục, các phó tế phục vụ, các thầy giúp lễ và đọc sách hành
xử phận vụ của mình.
120. Phải giữ hình thức lễ này đặc
biệt trong những ngày lễ trọng nhất của năm phụng vụ, trong Thánh Lễ Giám mục làm
phép dầu thánh và Thánh Lễ Tiệc Ly của Chúa, trong Thánh Lễ kính Thánh
sáng lập Hội Thánh địa phương hay Thánh Lễ bổn mạng của giáo phận, trong “ngày
sinh” của Giám mục, trong các cuộc tập họp đông đảo của Dân Chúa, cũng như các
cuộc thăm viếng mục vụ.
121. Thánh Lễ “ĐẠI TRIỀU” phải là lễ
hát, theo như qui định đã đặt trong phần Quy chế Tổng quát của Sách lễ Rôma.
122. Nên có ít là ba phó tế thực thu:
một phục vụ Phúc Âm và bàn thờ, và hai dự tá Giám Mục. Nếu có nhiều hơn, thì
chia tác vụ cho nhau, và ít là phải để một người giúp giáo dân tham dự cho chủ
động. Nhưng nếu không thể có phó tế thực thụ, thì tác vụ của họ nên được các linh
mục làm. Các linh mục này mặc lễ phục linh mục, đồng tế với Giám mục, cho dù họ
phải làm lễ khác nữa vì lợi ích mục vụ của tín hữu.
123. Trong nhà thờ chính toà, nếu có Kinh
sĩ hội, thì mọi kinh sĩ nên đồng tế Thánh Lễ đại triều với Giám Mục, nhưng
không vì thế mà bỏ qua các linh mục khác.
Nếu có các Giám mục và kinh sĩ hiện diện mà
không đồng tế, thì các vị ấy phải mặc áo kinh hội.
124. Khi vì hoàn cảnh đặc biệt không
thể gắn liền giờ kinh phụng vụ và Thánh Lễ Đại Triều của Giám mục, và Kinh
sĩ hội buộc phải đọc giờ kinh ấy, thì họ sẽ tìm giờ thuận tiện khác mà đọc.
Quy chế Tổng
quát Sách lễ Rôma 2002
203. Phải hết sức quý trọng Thánh Lễ đồng tế mà
các linh mục trong mỗi giáo phận cử hành với Giám mục của mình, trong Thánh Lễ Đại triều,
nhất là trong các cuộc lễ trọng hơn của năm phụng vụ, trong lễ tấn phong Giám mục
mới trong giáo phận, hoặc Giám mục phó hoặc phụ tá của ngài, trong lễ làm phép
dầu, trong lễ Tiệc Ly ban chiều, trong lễ mừng thánh sáng lập của giáo phận địa
phương hoặc thánh bổn mạng giáo phận, trong các lễ kỷ niệm của Giám mục, sau
hết trong dịp họp Hội đồng hoặc viếng thăm mục vụ.
Vì lý do đó, nên khuyến khích đồng tế mỗi khi
các Linh mục tụ họp với Đức Giám mục của mình, như trong dịp tĩnh tâm hoặc tập
họp khác. Trong những dịp ấy, dấu hiệu hiệp nhất của chức Linh mục, và của Hội
Thánh, đặc trưng của mọi lễ đồng tế, được biểu lộ một cách rõ ràng.
Cha Giuse Phan Tấn Thành, O.P. nhận xét:
Khi chuyển ngữ các từ luật pháp hoặc hành chính từ tiếng Latin sang tiếng Việt, người ta
phải tìm một từ ngữ tương đương trong luật pháp Việt Nam. Tiếc rằng, tiếng Việt
thay đổi nhiều qua dòng thời gian, mà “từ ngữ nhà đạo” không đuổi kịp.
Một vài thí dụ:
‒ Chúng ta dịch “Curia Romana” là “giáo triều”, hiểu ngầm là “triều
đình của Giáo hoàng”. Nhưng ngày
nay: 1] Ở
Việt Nam không còn triều đình nữa; 2] Trong tiếng Latin, “curia”
không chỉ áp dụng cho “giáo triều” mà còn cho trụ sở giáo phận (curia
dioecesana), trụ sở dòng tu (curia generalitia). Như vậy, “curia” nên dịch là “trụ sở” hơn là “triều đình”.
‒ Chúng ta đã quen với danh xưng “Toà Giám mục”, vì trước đây, chúng
ta có “Toà Tỉnh trưởng, Toà Đô trưởng”. Nhưng ngày nay, “toà” chỉ còn dùng
cho “toà án” chứ không dùng để gọi trụ sở Uỷ ban Nhân dân thành phố (toà nhà ở
đường Nguyễn Huệ trước đây gọi là “toà Đô trưởng”).
‒ Nghe nói lễ “đại triều”, chúng ta dễ liên tưởng đến “triều đình”.
Thực ra, trong nguyên
ngữ đó là “Missa pontificalis” (lễ giáo chủ). Mặt khác, chúng ta vẫn còn nghe
nói đến các “cha triều” (có nghĩa là “cha quan triều”), vì muốn so sánh các linh mục (chánh xứ) với các quan do triều
đình bổ nhiệm, mà chúng ta
quên rằng: các linh mục
không phải là “quan” nhưng là “người phục vụ”.
‒ Một cách tương tự như vậy, khi nói về các văn bản, “thông điệp” là văn bản quan trọng nhất của Giáo hoàng. Trước đây,
“thông điệp” là văn bản quan trọng nhất của quốc trưởng trình bày tình hình của
quốc gia (mỗi năm 1 hay 2 lần). Ngày nay, từ “thông điệp” không còn ý nghĩa long trọng như
vậy. Một
câu chuyện trong điện thoại cũng gọi là thông điệp!
‒ Trong bản dịch Việt ngữ Bộ Giáo luật, “Sắc chỉ, Sắc lệnh, Sắc phong, Nghị định...” có nghĩa như nhau, vì dịch từ “decretum” trong tiếng Latin. Tiếng “decretum” (tiếng Anh là “decree”) có thể dịch là “Sắc lệnh, Nghị định” theo pháp luật trước năm 1975. Ngày nay, có lẽ người ta gọi là “Nghị quyết, Sắc lệnh”...
Điều 48
Nghị định là văn kiện hành chính do nhà chức trách hành pháp ban hành
chiếu theo quy tắc luật định, nhằm đưa ra một quyết định hay một việc dự phòng
trong một trường hợp đặc biệt; theo bản chất, việc quyết định và việc dự phòng
này không giả thiết là phải có người yêu cầu.
Điều 49
Mệnh lệnh là sắc lệnh buộc cách trực tiếp và hợp pháp một cá nhân hay
nhiều người nhất định phải làm hoặc bỏ một điều gì, nhất là để thúc bách họ giữ
luật.
Điều 50
Trước khi ban hành một nghị định, nhà chức trách phải truy tầm các thông
tin và chứng cớ cần thiết, và ngần nào có thể, phải lắng nghe những người mà
quyền lợi của họ có thể bị tổn thương.
Điều 51
Sắc lệnh phải được ban hành bằng văn bản, nếu là một quyết định thì phải
trình bày các lý do, ít là cách sơ lược.
Điều 52
Nghị định chỉ có hiệu lực đối với sự việc đã được ấn định và đối với những
người đã được nhắm đến; nghị định ràng buộc những người này bất kỳ ở đâu, trừ
khi đã rõ cách khác.
Điều 53
Nếu các Sắc lệnh trái ngược nhau, thì Nghị định có giá trị hơn Sắc luật
trong những điểm được nêu lên cách riêng; nếu cả hai Sắc lệnh đều là Nghị định
hay Sắc luật, thì Sắc lệnh sau sửa đổi Sắc lệnh trước trong những gì ngược với Sắc
lệnh trước.
Điều 54
§l. Khi việc áp dụng một nghị định được uỷ thác cho một người thi hành,
thì Nghị định có hiệu lực từ khi thi hành; nếu không, thì Nghị định có hiệu lực
từ lúc nhà chức trách ban hành nghị định thông báo cho đương sự biết.
§2. Để có thể thúc bách việc thi hành Nghị định, phải thông báo Nghị định
bằng văn thư hợp pháp chiếu theo quy tắc của luật.
Điều 55
Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 37 và 51, khi có một
lý do rất nghiêm trọng ngăn trở việc trao văn bản, Sắc lệnh vẫn được xem như đã
được thông báo, nếu đã được đọc cho đương sự nghe trước mặt một công chứng viên
hay trước mặt hai nhân chứng, sau đó phải lập biên bản và tất cả những người hiện
diện phải ký tên vào đó.
Điều 56
Một Sắc lệnh được xem như đã được thông báo, nếu đương sự đã được triệu
tập cách hợp lệ để nhận hay nghe đọc Sắc lệnh, nhưng đã không chịu đến hay
không chịu ký tên, dù không có lý do chính đáng.
Điều 57
§1. Mỗi khi luật buộc phải ban hành Sắc lệnh hay khi đương sự thỉnh cầu
hoặc thượng cầu một cách hợp pháp để được một Sắc lệnh, thì nhà chức trách có
thẩm quyền phải phúc đáp trong vòng ba tháng kể từ khi nhận được đơn thỉnh cầu
hay đơn thượng cấu, trừ khi luật đã ấn định một thời hạn khác.
§2. Hết thời hạn này, nếu Sắc lệnh chưa được ban hành thì việc trả lời
được suy đoán là bị từ chối đối với việc trình bày trong đơn thượng cầu sau.
§3. Dù việc trả lời được suy đoán là bị từ chối, nhà chức trách có thẩm
quyền vẫn phải giữ nghĩa vụ ban hành Sắc lệnh và cả nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
nếu có, chiếu theo quy tắc của điều 128.
Điều 58
§1. Một Nghị định hết hiệu lực do sự thu hồi cách hợp pháp của nhà chức
trách có thẩm quyền cũng như do sự chấm dứt của luật vì đó mà nghị định được
ban để thi hành.
§2. Một mệnh lệnh không được ban hành chính thức bằng một văn bản sẽ chấm dứt do sự mãn nhiệm của người đã ban hành mệnh lệnh.
Nói tóm lại, ở Việt Nam, chưa có một Hàn lâm viện thống nhất từ ngữ. Trong Giáo hội Việt Nam cũng thế. Thí dụ “Hồng y” có nghĩa là áo đỏ, nhưng các chú giúp lễ đâu có gọi là “chú hồng y”. Nguyên văn Latin là “cardinalis” có nghĩa là “trụ cột”. “Phó tế” có nghĩa là chuẩn bị làm “chánh tế” nhưng “diaconus” (gốc Hy Lạp ) có nghĩa là “kẻ phục vụ”.

